Sunday, January 25, 2026

Tản mạn ngày bão tuyết ...

 



Hôm qua, tăng đoàn "Walk for Peace" đã đến Toà Đô Chính của thành phố Raleigh, bang NC. Hàng ngàn người không quản ngại thời tiết lạnh lẽo, bão đá, đợi sẵn để chào đón tăng đoàn và chú chó Aloka tại đây. Thống đốc tiểu bang NC rất hoan nghênh, và đã chính thức ra văn bản tuyên bố công nhận ngày 24/1 là "Ngày đi bộ vì Hoà bình" của tiểu bang. 

Cuối tuần này, nước Mỹ cũng đang đối diện với một cơn bão mùa đông lịch sử, phủ dài suốt hàng chục tiểu bang từ đông sang tây, dự kiến hàng trăm triệu người bị ảnh hưởng. Hôm qua, hàng chục ngàn chuyến bay phải bị đình huỷ. Ở chỗ mình, mưa đá bắt đầu rơi từ đêm qua, nghỉ giải lao vài tiếng, giờ đang rơi tiếp. Làm một ly cafe nóng, tản mạn chút cho vui ....:-)





Ngày hôm qua, 24/1, cũng là ngày International Day of Education (tạm dịch là Ngày Quốc tế Giáo dục). Từ lâu, thế giới luôn dành một ngày trong năm để tôn vinh và nhắc nhở tầm quan trọng của lãnh vực giáo dục. Tuy nhiên đó cũng chỉ là hình thức, nghe cho trang trọng, chứ giáo dục vốn không phải là chuyện của một ngày, càng không phải là chuyện của những khẩu hiệu hay một bài diễn văn hoa mỹ, mà là một dòng chảy âm thầm, đi xuyên suốt đời sống con người, từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt rời đi. 

Thực ra, nếu nhìn giáo dục chỉ như việc học chữ, học nghề, học để có bằng cấp, kiếm cơm, thì đó mới chỉ là phần nổi rất nhỏ. Bởi có không ít người học rất nhiều, nhưng lại không hiểu chính mình; biết rất rộng, nhưng lại không biết sống sao cho nhẹ; thành công ngoài xã hội, nhưng trong lòng thì bất an, sợ hãi và cô độc.

Nhìn từ góc độ PG, giáo dục trước hết không phải để “trở thành” một ai đó, mà là để thấy ra mình đang là ai. Học không phải để chất thêm kiến thức lên cái đầu vốn đã nặng, mà để gỡ bớt những lớp vô minh, định kiến và ảo tưởng mà ta mang theo từ gia đình, xã hội, lịch sử, và cả từ chính nỗi sợ của mình.

Giáo dục đúng nghĩa không tạo ra những con người giống nhau, mà giúp mỗi người trở về với khả năng tự nhìn, tự nghĩ và tự chịu trách nhiệm cho đời sống của chính họ. Khi một con người biết quan sát chính mình, họ bớt đổ lỗi. Khi họ hiểu rằng mọi thứ đều đổi thay, họ bớt bám víu. Khi họ thấy rằng không có chân lý tuyệt đối nào nằm gọn trong một hệ thống, họ bớt cuồng tín.

Và từ đó, xã hội cũng đổi khác !

Một xã hội được giáo dục không phải là xã hội không có xung đột, mà là xã hội biết xử lý xung đột mà không rơi vào hủy diệt. Cũng không phải nơi ai cũng nói hay, mà là nơi người ta biết lắng nghe nhau. Càng không phải nơi ai cũng đúng, mà là nơi người ta chấp nhận mình có thể sai !



Hôm qua, mình có dịp chào đón đoàn tăng lữ “đi bộ vì hòa bình” (Walk for Peace). Trong lúc chờ đợi, được trò chuyện cùng vài người bạn mới quen. Cuộc trò chuyện rất ngắn, nhưng để lại nhiều suy nghĩ. Họ sinh ra và lớn lên trong những gia đình Ki-tô giáo, quen thuộc với những cách diễn giải rất riêng về con người, xã hội, đức tin và giá trị bản thân. Thế nhưng điều làm mình ấn tượng không phải là sự khác biệt ấy, mà là cách họ đi cùng sự khác biệt. Họ có đức tin, có nguyên tắc sống rõ ràng, nhận diện được những dị biệt giữa mình và người khác, nhưng không hề cực đoan, cũng không sùng bái cá nhân một cách mù quáng. Chính giáo dục, theo đúng nghĩa, đã giúp họ tìm được những tiếng nói chung trong một đời sống vốn đầy dị biệt.

Mình rất tôn trọng lối sống tỉnh thức (awareness) như vậy, mặc dù giữa họ và mình có không ít quan điểm khác nhau. Bỗng nhiên nghĩ đến đã bao lần mình từng được nghe thiên hạ gán ghép cho nhau những nhãn mác kiểu như “dân tộc này cực đoan hơn dân tộc kia”, “văn hóa này khoan dung hơn văn hóa kia”, "dân vùng miền này "sĩ diện" hơn vùng miền kia" ....v.v. Trong khi thực tế, ở đâu cũng có những con người biết lắng nghe, biết tự điều chỉnh, và biết sống chung với khác biệt.

Einstein từng nói: “The measure of intelligence is the ability to change.” (tạm dịch: Thước đo của trí tuệ là khả năng thay đổi). Vậy thì phải chăng, sự cực đoan luôn tỉ lệ nghịch với sự thông minh ? Hay đó chỉ là hệ quả của những hệ thống giáo dục và văn hóa lâu đời, nơi con người được dạy phải bảo vệ căn tính của mình bằng sự cố chấp, được nuôi dưỡng trong những vòng tròn khép kín của niềm tin, và vô thức khoác lên mình một lớp vỏ tự mãn ?

Nếu giáo dục chỉ dạy con người phải đúng, mà không dạy cách sửa sai; chỉ dạy bảo vệ bản sắc, mà không dạy đối thoại; chỉ dạy trung thành với một hệ giá trị, mà không dạy tự vấn chính hệ giá trị ấy, thì giáo dục đó, dù có nhiều bằng cấp, vẫn có thể trở thành mảnh đất nuôi dưỡng cực đoan. Thậm chí có nhiều nơi còn nhầm lẫn giữa giáo dục và tuyên truyền, trong khi hai lãnh vực này có mục đích hoàn toàn khác nhau. Một bên là khai phóng, rộng mở; một bên là thiên kiến, giới hạn! 

Trong PG, người tu học không được khuyến khích tin mù quáng, mà được khuyên bảo tự mình quan sát và trải nghiệm. Đức Phật không hứa hẹn cứu rỗi ai, cũng không trao cho con người một chân lý đóng gói sẵn. Ngài chỉ chỉ ra con đường, còn đi hay không, đi tới đâu, là việc của mỗi người. Tinh thần ấy, nếu được đem vào giáo dục hiện đại, sẽ giúp con người học cách sống tỉnh thức giữa một thế giới đầy nhiễu loạn.

Ngày nay, nhân loại có thể đi rất nhanh, biết rất nhiều, kết nối rất rộng, nhưng lại dễ mất phương hướng. Có lẽ vì ta đã học cách chinh phục thế giới bên ngoài, mà quên học cách an trú trong thế giới bên trong. Giáo dục nếu thiếu đi chiều sâu này, rất dễ trở thành công cụ tạo ra những con người giỏi giang nhưng rỗng lòng, năng động nhưng bất an.

Suy cho cùng, giáo dục không nhất thiết chỉ là để kiếm được nhiều tiền hơn, hay để "tự xem" mình mạnh hơn, giỏi hơn người khác, mà để bớt làm khổ mình và khổ người. Giáo dục cũng không chỉ là những tấm bằng giấy để thắng trong một cuộc đua ngắn hạn, mà là khả năng nhận ra khi nào nên đi chậm lại, khi nào nên dừng. Và giáo dục cũng không nhằm tích lũy cho thật nhiều, mà để dần hiểu ra được thế nào là đủ cho chính mình, biết cân bằng đời sống để không trở thành nô lệ của hoàn cảnh. Tất nhiên, đó cũng chỉ là cách nhìn cá nhân của mình, không nhất thiết phải đúng với tất cả mọi người. 

Trong bối cảnh chính trị và xã hội thế giới hiện nay, đặc biệt là ở Mỹ, không ít người âm thầm trăn trở về những điều đó. Thời đại ngày nay, nhiều gia đình có con nhỏ ngần ngại mở tivi xem tin tức trước mặt con cái. Những hình ảnh bạo lực, sự rối loạn giá trị, những khủng hoảng đạo đức và niềm tin xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đã trở thành nỗi lo thường trực của các bậc cha mẹ khi nghĩ đến sự hình thành nhân cách và hệ giá trị của con cái mình. Hình ảnh những nguyên thủ quốc gia hoặc người lãnh đạo chửi thề, đầy tâm lý hận thù, ứng xử nông nổi, thiếu sự trưởng thành ... dễ ảnh hưởng đến tư duy non nớt của thế hệ trẻ. Ngay cả việc phân biệt tin tức đâu là thật, đâu là giả, cũng không còn là thử thách riêng của trẻ nhỏ; mà ngay cả người lớn, đôi khi cũng không tránh khỏi bị cuốn hút theo.

Cho nên theo quan niệm của nhiều người, ý nghĩa đẹp nhất của Ngày Quốc tế Giáo dục không nằm ở các buổi lễ hay những khẩu hiệu được nhắc đi nhắc lại, mà nằm ở một câu hỏi rất giản dị từ mỗi người - Liệu ta đã học được những gì để sống tử tế hơn, cống hiến hơn, tỉnh táo hơn, và tự do hơn ?

Nếu giáo dục có thể giúp con người chạm tới câu hỏi ấy, dù chỉ một phần nhỏ, thì đó đã là một nền giáo dục đáng trân trọng. Và nếu mỗi người còn tiếp tục học suốt đời, học từ người khác, từ những vấp ngã, từ im lặng, và từ chính những nỗi khổ của mình, thì khi ấy, có lẽ giáo dục không cần một ngày để nhắc nhở hoặc tôn vinh, vì nó đã trở thành một cách sống !

Thôi tản mạn chút, xin tạm dừng ở đây. Chúc tất cả các bạn hữu và anh chị em một cuối tuần an vui.

PN


Friday, January 16, 2026

Bước chân bình an ....



Không nhớ rõ là đã bao nhiêu năm rồi, cứ đến tháng Chạp là mình về quê ăn Tết với Ba Má. Từ ngày Ba mất, mình lại về thường xuyên hơn. Và mỗi lần về quê là mỗi lần học được vài câu chuyện mới hoặc những kinh nghiệm đáng nhớ.

Mới năm ngoái, cũng tầm giờ này, về quê đi đến đâu cũng nghe người ta nói về chuyện “ông sư đi bộ”. Có lẽ đa số những người quen mình ít nhiều có quan tâm đến Phật giáo. Nhiều người hỏi mình cảm nghĩ như thế nào về chuyện “ông sư đi bộ”. Một số người còn cho rằng đó là một vị “Phật sống” thời nay. Thực ra thì mình cũng không biết trả lời sao, nên thường im lặng.

Thật là trùng hợp, năm nay cũng vào tháng này, lại có những nhà sư Phật giáo đi bộ vì hòa bình, “Walk for Peace”, ở Mỹ. Họ đi từ tiểu bang Texas, gồm 19 người cùng với chú chó Aloka, và dự định sẽ đến thủ đô Washington, D.C. Hôm kia, cô em họ của mình ở Cali đã nhanh chóng nhắn tin báo rằng hành trình của các nhà sư đã đi đến tiểu bang mình đang ở. Hành trình của họ ngày càng thu hút được nhiều sự chú ý của người dân Mỹ, đa số không phải là người theo đạo Phật. Trong năm qua, nước Mỹ có quá nhiều những biến động và sự kiện ồn ào xảy ra, phần lớn không đem lại sự bình an, thanh thản trong cộng đồng và xã hội. Điều đó càng làm cho nhu cầu tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn của con người tăng cao. Âu đó cũng là chuyện tất nhiên theo thuyết duyên khởi của nhà Phật - có cái này thì ắt có cái kia.

Tuy nhiên, rõ ràng có một sự khác biệt giữa hai sự kiện “nhà sư đi bộ” bên VN và bên Mỹ. Sự kiện đi bộ ở Mỹ chỉ mang ý nghĩa lan tỏa năng lượng tích cực, truyền tải thông điệp hoà bình, sống tử tế, tôn trọng nhau, bình đẳng sống trong xã hội. Và đơn giản chỉ có vậy.

Về mặt truyền thông xã hội, sự kiện "Walk for Peace" (đi bộ vì hoà bình) lần này không có (hoặc chưa có) các YouTuber giật gân, giật tít, phóng đại để câu view. Về mặt tâm linh, tới thời điểm này cũng chưa có cảnh người lạy lục, sờ chân, sờ áo, tranh nhau cúng dường, chụp hình chụp bóng, để mong được phước báu như ở VN. Và cũng có lẽ nhờ vậy mà việc đi lại của tăng đoàn đơn giản hơn, không ảnh hưởng nhiều đến chính quyền sở tại và các cơ quan truyền thông chính thống lẫn không chính thống :-).  

Nhân tiện, mình cũng mạn phép chia sẻ một vài ý kiến về vấn đề này mà trước đây chưa có dịp nói. Hơi dông dài một chút, nhưng phải quay lại một mẫu chuyện ngày xưa.

Gần 40 năm trước, một lần đọc cuốn sách của Thầy Abhinyana, thấy có câu trích dẫn: “When the iron bird flies and horses run on wheels, the dharma will come to the land of the red faces.” (Tạm dịch: Khi con chim sắt biết bay và những con ngựa chạy trên bánh xe, thì đạo pháp sẽ truyền đến đất nước của những người mặt đỏ). Mình hỏi Thầy câu đó có ý nghĩa là gì.


Khi ấy, Thầy không giải thích gì nhiều, chỉ nói rằng câu nói này có từ thế kỷ thứ 7 và được truyền thừa trong PG Tây Tạng. Sau này, khi đi qua nhiều nước, gặp được nhiều người, đọc và nghe nhiều hơn, mình dần dần hiểu ra phần nào ý nghĩa của câu nói này. Tất nhiên, cũng như bao câu nói hoặc kinh điển truyền thừa khác, mỗi người sẽ hiểu nó theo cách khác nhau và diễn giải khác nhau.

Trong Phật giáo, “pháp” không phải là thứ lý thuyết có thể thấu hiểu chỉ bằng ngôn từ, hoặc chỉ cần tin là đủ, mà là thứ để con người sống chung với nó và tự mình thực chứng. Tất nhiên trong cuộc sống đời thường, ngôn ngữ luôn cần thiết cho viêc giao tiếp truyền thông, nhưng trong đạo pháp nó lại gặp phải nhiều giới hạn khi diễn đạt những thứ sâu sắc hơn, hoặc những điều mà con người chỉ có thể nhận biết được bằng con đường tự thực hành và trải nghiệm. Đây cũng là một trong những điểm khác biệt căn bản và mấu chốt của PG so với nhiều tôn giáo khác, nhưng có lẽ cũng là một sự thật khó chấp nhận đối với một số người hiểu đạo Phật theo cách mê tín truyền thống thường thấy ở các nước Á châu. 

Ngày nay, Phật giáo xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Các nước như Mỹ, Anh, Đức, Úc… đều có nhiều người thực hành “Buddhism” (đạo Phật). Có nhiều chùa, thiền viện, trung tâm thực hành thiền định… được mọc lên. Sách vở, kinh điển PG cũng được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được nghiên cứu sâu rộng, kể cả ở các trường đại học danh tiếng. Mấy tháng trước, mình cũng có dịp đọc qua một số tài liệu nói về việc khá nhiều người Do Thái thực hành đạo Phật, hình thành một “tông phái” mới gọi là “JewBu” (hoặc “Jubu”), kết hợp giữa hai chữ Jewish (Do Thái) và Buddhism (đạo Phật). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cái gọi là “đạo Phật” ở phương Tây chưa chắc hoàn toàn giống với “đạo Phật” ở Việt Nam, dù có cùng tên gọi là (Buddhism/Buddhist).

Nhiều học giả và nhà nghiên cứu tôn giáo không xem PG là một “tôn giáo” theo định nghĩa truyền thống, tức là phải có một Đấng giáo chủ, một Thượng đế tối cao, hoặc một hệ thống đức tin tuyệt đối để nương tựa. Ngay cả kinh sách PG ngày nay cũng là do các đệ tử của Đức Phật và các bậc Tổ đời sau truyền lại. Dù có nhiều cách diễn giải và phương pháp thực hành khác nhau, nhưng phần lớn đều cùng hướng đến một mục đích chung là dẫn dắt con người trên con đường giác ngộ, vượt qua vô minh, giải thoát khỏi khổ đau.

Dưới góc nhìn của nhiều người thực hành PG hoặc Phật tử phương Tây, PG mang tính thực nghiệm và khoa học, không nặng màu sắc thần linh mê tín, không dính mắc vào những khái niệm ban bố, thưởng phạt, mà là những phương pháp thực hành sống tử tế, tỉnh thức, từ bi và trí tuệ. Chính vì cách hiểu này mà PG ngày càng lan rộng ở phương Tây theo hướng diễn giải ấy.

Đức Phật ngày xưa cũng chưa bao giờ cho rằng mình là một Đấng Cứu Thế siêu nhiên, cũng không hề hứa hẹn sẽ cứu rỗi bất kỳ ai. Người ta tôn kính gọi Ngài là Buddha (Bụt), nghĩa là một đấng Giác Ngộ, một Người đã “thấy, biết” con đường diệt khổ, và chỉ dạy lại cho chúng sinh. Đơn giản là vậy !

Ngài cũng chưa từng yêu cầu người khác hay các đệ tử phải tin mình một cách tuyệt đối (tin mà không hiểu, hoặc tin mù quáng mà không thực chứng). Ngay cả trước lúc nhập diệt, Ngài còn nhắc nhở: “Vạn vật đều vô thường, mỗi người hãy tự thực chứng con đường giải thoát của mình, đừng dựa dẫm vào ai.” (Xin lưu ý rằng có nhiều bản dịch khác nhau về lời dạy cuối cùng này, nhưng nôm na ý chính là như vậy.)



Tuy nhiên, chính vì quan niệm và sự hiểu biết về PG khác nhau, nên cách thực hành và niềm tin của mỗi người cũng khác nhau. Vì vậy, thiết nghĩ không nên phân định ai đúng ai sai, mà mỗi người (nếu quan tâm) nên tự chiêm nghiệm lời chỉ dạy của Ngài bằng những trải nghiệm đời sống của chính bản thân. Chỉ mong được thế !

Sở dĩ mình dài dòng như vậy là vì tuy cùng thực hành “đạo Phật”, nhưng nếu không thấu đáo, e rằng khi nhìn sự việc dưới cái “biết” của người này, lại thấy người kia sai trái, khác thường. Còn nếu đã nói là “theo” đạo Phật mà cứ mãi lý luận, tranh cãi, giảng thuyết, hay tranh chấp phê phán lẫn nhau, tông này phái nọ, giới này hạnh kia, thì chẳng khác nào chúng ta đang mải mê bàn luận về những ngón tay chỉ trăng mà chưa hề nhìn thấy trăng. Mà mặt trăng thì vốn chỉ có một, còn ngón tay chỉ trăng thì vô vàn !

Đạo Phật không nằm ở việc rành rẽ kinh điển hay thuộc lòng lý thuyết, cũng không nằm ở việc chạy theo tông phái pháp môn nào, mà nằm ở sự tỉnh thức, thực hành, và trải nghiệm tự thân của mỗi người. Đạo Phật cũng không dựa vào hình tướng, chức sắc, bằng cấp, hay tri thức có được, mà dựa vào khả năng buông bỏ được những thứ đó.

Cũng không ai bám chấp vào một “giới” hay một “hạnh” nào đó, rồi mong mình trở thành Phật. Bởi “giới”, "hạnh" cũng chỉ là phương tiện, là những tấm khiên để ngăn bớt "trouble", ham muốn, nhiễu loạn... trên con đường tu tập, giống như trong toán học đó là điều kiện cần, chứ không phải là điều kiện đủ. Ngày xưa, trước khi giác ngộ, Đức Phật cũng đã thử qua nhiều phương pháp, trong đó có cả lối tu ép xác, giữ giới nghiêm mật đến kiệt sức, suýt chết, trước khi Ngài thấy ra con đường Trung Đạo.

Một người đi tu để mong đắc được quả này quả nọ, đạt “chánh đẳng, chánh giác”, hay thậm chí để “thành Phật”, thì đôi khi lại càng khó khăn hơn, vì thật ra chẳng có ai để mà “đắc”, cũng chẳng có gì để mà “trở thành”. Nhiều vị thiền sư, chân tu, đắc đạo ngày xưa đi tu không phải để “trở thành” ai đó, mà là để “trở về” với cái chân như, cái "tánh biết" vốn sẵn có trong chính họ. Giữa cuộc sống đời thường, người giác ngộ thấy rõ chân tướng của sự vật, bản chất vô thường vô ngã của cuộc sống, thấy rõ đâu là mục đích, đâu là phương tiện; đâu là chân đế, đâu là tục đế, nên họ hòa mình vào đời sống mà không bị cuốn theo mớ bòng bong đó. Lịch sử VN cũng không hiếm những con người như vậy, như Sư Vạn Hạnh, Sư Tiêu Dao, Tuệ Trung Thượng sĩ, Phật hoàng Trần Nhân Tông… Và có lẽ còn rất nhiều bậc giác ngộ khác đã từng sống rất bình thường mà không cần ai phải biết đến. 

Còn chuyện "nhà sư đi bộ" thì đã có từ hàng ngàn năm trước, không phải là điều mới lạ. Ngày xưa có nhiều nhà sư PG đi bộ từ TQ sang Ấn độ và ngược lại, trước cả thời của Ngài Huyền Trang. Trước đó nữa, cũng có nhiều hành giả đi từ Ấn độ sang các nước Tích Lan, Miến Điện... truyền pháp. Và nhiều người trong số họ, đã hy sinh nằm xuống vô danh trên hành trình khổ hạnh. Ngay cả ở VN cũng có nhiều nhà sư PG đi bộ, đi ghe, từ TQ sang, và sáng lập ra những tổ đình ngày xưa. Ngày nay cũng vậy, ở những đất nước có sự hiện diện của PG, hình ảnh các nhà sư phát tâm đi bộ cũng không phải là chuyện hiếm hoi lắm. Tuy nhiên, ai cũng hiểu rằng những hành trình tu tập gian nan đó không hề hứa hẹn hoặc cam kết họ sẽ "đắc đạo", hoặc họ sẽ tự động trở thành một vị "Phật sống", hoặc sẽ thoát khỏi vô minh, đoạn diệt luân hồi, chấm dứt khổ đau.... Bởi đó cũng chỉ là những phương tiện bên ngoài, những hạnh nguyện hoặc giới luật mà họ chọn lựa để giúp họ trên con đường thực hành tu tập, còn sự giác ngộ thực sự (cái "thấy", cái "biết") vốn đến từ "trí tuệ" bên trong của mỗi người !

Và bên cạnh đó thì cũng không hiếm những người tưởng mình đã "đắc đạo" hay "giác ngộ”, rồi vô tình gây ra nhiều hệ lụy cho chính bản thân, và cho những ai dễ dàng tin theo hoặc sùng bái họ. Vì vậy, một trong những câu nói cuối cùng của Đức Phật là “Work out your salvation with care.” (tạm dịch: Hãy lo liệu việc giải thoát của chính mình với sự cẩn trọng). Câu này vốn được dịch ra từ tiếng Phạn, và có một số trung tâm nghiên cứu PG trên thế giới đã luận giải rất hay về ý nghĩa của chữ “care” (sự cẩn trọng) trong câu nói này.

Thôi, quay lại chuyện mấy nhà sư đi bộ một chút. Mình thì thích nhất là chú chó Aloka đi theo đoàn. Từng là một chú chó hoang, chân cẳng yếu, từng bị thương, nhưng vẫn kiên cường trên mọi nẻo đường vì hoà bình :-). Trước đó, chú cũng đã từng đi ở Ấn Độ sau khi có “duyên” hội ngộ với các nhà sư. Trộm nghĩ, nếu chuyện này xảy ra ở Việt Nam, thì chắc ít nhất cũng đã có vài câu chuyện tâm linh kiểu “oan gia trái chủ”, hay "thần thánh đầu thai" hộ pháp gì đó... xoay quanh chú chó Aloka này rồi :-) .

Suy cho cùng, năng lượng tích cực vốn là nguồn vô biên, không dành riêng cho ai, mà cũng không giới hạn cho bất kỳ loài sinh vật nào. Thực tế thì con người cũng chưa chắc luôn mang lại năng lượng tích cực cho nhau, mà lắm khi còn ngược lại. Nhắc đến chuyện này, mới nhớ rằng ngay tại Mỹ trong thời gian gần đây, có những nhóm người đi đến đâu mang theo năng lượng tiêu cực phủ khắp mọi nơi, tạo nên không khí bất ổn và bạo lực, gieo rắc nỗi sợ hãi. Có lẽ vì vậy mà hành trình của chú chó Aloka và các nhà sư càng trở nên nổi bật và cần thiết hơn. Trên mạng hiện nay cũng có nhiều bài hát về chú chó Aloka do AI sáng tác, nghe rất hay.


Vài ngày nữa, tăng đoàn sẽ đi ngang qua đây. Chắc mình cũng ra chào đón các nhà sư và chú chó Aloka. Mấy hôm nay và tuần tới nhiệt độ xuống rất thấp. Lạnh lẽo quá, cầu mong mọi điều tốt lành đến với họ.

Cũng thân chúc các bạn và anh chị em một cuối tuần an vui.

PN

Saturday, January 10, 2026

Phiếm : Ôn cố tri .... tâm :-)

 


Lâu nay, người ta thường nhắc đến cụm từ “ôn cố tri tân” như một chân lý hiển nhiên, như thể chỉ cần nhìn lại quá khứ thì tự khắc sẽ hiểu được hiện tại. Nhưng nghĩ kỹ thì cũng chưa chắc. Bởi “tri” là chuyện rất riêng, mà đã là chuyện riêng thì khó có sự đồng thuận. Tư duy con người phụ thuộc vào những điều kiện (nhân duyên) khác nhau, cuối cùng mỗi người “tri” một kiểu. Cái hiểu của người này khác với người kia, dẫn đến những tranh cãi, hoặc xung đột mâu thuẩn ngoài ý muốn, không cần thiết. Tranh luận về lịch sử VN trên mạng xh trong thời gian gần đây là ví dụ gần gũi nhất. Cùng một chuỗi sự kiện, cùng một nhân vật lịch sử, nhưng cách “tri tân” giữa người này khác với người kia, đàng trong khác với đàng ngoài, trong nước khác với ngoài nước ... Nhiều lúc khác nhau đến mức tưởng chừng như họ đang nói về hai lịch sử song song. Mặc dù ngày nay báo chí, tư liệu, phương tiện truyền thông đầy đủ hơn bao giờ hết, nhưng tin tức cũng có mặt trái của nó, nếu không biết gạn lọc phân tích thì mớ thông tin hổn độn đó lại trở thành những "sở tri chướng" trong cuộc sống. Bởi vậy cứ vài ba ngày một trận nhỏ, vài ba tuần một trận lớn, vài ba tháng một trận “nổi đình nổi đám”. Mới chuyện “mưa đỏ mưa xanh” chưa lắng, thì đã đến chuyện Bảo Ninh "Nỗi buồn chiến tranh", rồi Quang Trung Gia Long ... Hải ngoại cũng thế, cùng là thân phận sờ voi, người đọc báo lề trái công kích lề phải, ông đọc "tin vịt" phê phán bà đọc tin tức "chính thống", kẻ đọc báo "chợ" chê trách người đọc "tin gốc"...v.v.. Rồi cứ thế, nhu cầu chứng tỏ đúng sai, hiểu biết thời cuộc, được nâng cao hơn bao giờ hết. Vô tình tạo ra một môi truờng màu mỡ cho các youtube bẩn, tin vịt tin gà, hoặc các "ông chú vịt teo" chuyển tải tin tức ngày càng mạnh mẽ. Râm rang, ầm ỉ, sôi động, tiếp nối nhau không bao giờ kết. Bởi vậy mình thường nói đùa, đúng ra phải là "ôn cố tri ... tâm" mới đúng. Vì cho dù có "ôn" kiểu gì thì cuối ngày cái "tâm" của mỗi người sẽ là phần quyết định vẽ lên bức họa chân dung của riêng họ !

Nhưng nghĩ cho cùng, đời sống cũng cần như vậy mới vui. Chứ nếu ai cũng “ôn cố” mà “tri tân” giống nhau thì thiên hạ chắc là buồn lắm :-). 


Hôm nay, mình cũng thử “ôn cố”, nhưng ôn… chuyện Tam Quốc Chí cho vui, chứ hoàn toàn không có ý tranh chấp đúng sai. Trước hết phải nói cho rõ, truyện Tam Quốc mà chúng ta quen đọc, quen xem, vốn là một câu chuyện “thất thực tam hư”, bảy phần thực, ba phần hư. Tuy nhiên những phần hư ấy lại trở nên rất hấp dẫn đối với hậu thế, và có những bài học đáng giá. Đôi lúc cứ tưởng như là có thật 100% :-) 

Nguyên thủy Tam Quốc Chí là của Trần Thọ, viết vào thời Tây Tấn, khoảng thế kỷ thứ 2-3 gì đó sau Công nguyên. Sau đó có bao nhiêu bổ sung, chú giải của các học giả đời sau, nổi bật nhất là Bùi Tùng Chi với Tam Quốc Chí Chú. Rồi phải gần một ngàn năm sau nữa, đến thời nhà Minh (cùng thời với giai đoạn Hồ Quý Ly, Lê Lợi, Nguyễn Trãi ở nước ta), La Quán Trung mới dựa trên nền tảng đó mà viết nên Tam Quốc Diễn Nghĩa, một tiểu thuyết dã sử đúng nghĩa, lịch sử pha văn chương, chuyện thật hòa với "lý tưởng". Về sau, cũng có một số chi tiết thêm thắt, sửa sang như của Mao Tôn Cương, của các nhà tuyên giáo, hoăc các nhà xuất bản của nhà nước TQ, nhưng thực tế cũng không làm thay đổi bản chất vấn đề nhiều lắm. Nói cho cùng, Tam Quốc mà chúng ta đọc hôm nay đã là sản phẩm của nhiều lớp thời gian, nhiều tầng diễn giải, thực hư lẫn lộn. Bởi vậy, nếu chấp vào từng chi tiết để phân định đúng sai tuyệt đối thì e là… tự làm khổ mình.

Với phạm vi thời gian ngắn ngủi của ly cafe và bình trà, mình mạn phép chỉ xoay quanh vài nhân vật cộm cán quen thuộc thôi. Đọc như đọc một câu chuyện cũ, nghĩ như nghĩ một chuyện đời, không nhằm kết luận, càng không nhằm phán xét. Chỉ là ôn lại chuyện xưa, để thấy mỗi thời, mỗi người, mỗi cảnh ngộ đều có những cách ứng xử khác nhau. Và có lẽ, chính sự khác nhau ấy mới làm cho lịch sử, cũng như đời sống, còn điều đáng để suy ngẫm :-)

Trước tiên, nói đến hai cha con Đổng Trác và Lã Bố. Một người thì chuyên xử dụng quyền lực dựa trên bạo lực, không dựa trên chính danh. Một người thì có sức lực siêu quần, hám danh, tự cao tự đại, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài. Đổng Trác và Lữ Bố thất bại, bị đào thải khỏi ván cờ lịch sử, không phải chỉ vì thua trận, mà thua về tư duy chính trị, chiến lược dài hạn, và cách dùng người. Đổng Trác nắm quyền nhờ vũ lực và khủng bố, gieo rắc sợ hãi, thao túng triều đình, phế lập hoàng đế, nên làm mất lòng nhân sĩ, chư hầu và dân chúng. Tầm nhìn của Đổng Trác mang tính thời vụ, không xây dựng được một liên minh bền vững, và kế hoạch lâu dài. Và cũng chính vì lợi ích ngắn hạn nên chỉ dựa vào đám thuộc hạ trung thành, khiếp nhược, đa số phục tùng ông vì quyền lợi, vì sơ hãi, hoặc chịu đấm ăn xôi. Quan trọng hơn nữa là chính cái sức mạnh mà Đổng Trác dựa hơi, cũng không phải do ông tạo ra, mà là dựa vào Lữ Bố. Đây cũng là một ngộ nhận thường thấy, nhiều người hiểu lầm thiên hạ đang sợ bản thân họ (tự ngã) nhưng thực ra thiên hạ "sợ" họ vì một nguyên nhân khác. Nhìn chung, Đổng Trác không có chính danh, nghĩa là tự chuốc cô lập, thất bại chỉ là chuyện sớm muộn. 

Còn Lữ Bố thì võ dũng tuyệt đỉnh, nhưng lại kém tư duy, mưu lược. Lữ Bố mạnh cá nhân nhưng thiếu trung thành (giết Đinh Nguyên, giết Đổng Trác), thiếu tầm nhìn, không biết cách giữ đất, giữ người, giữ lòng kẻ dưới. Ông dựa vào sức mạnh, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài, vì không có hệ thống mưu sĩ, không xây dựng được nền tảng chính trị. Cho nên Lữ Bố chỉ là hình mẫu của anh hùng cá nhân, trong khi Tam Quốc là cuộc chơi của tổ chức và trí tuệ tập thể, nên tất nhiên là sớm nở tối tàn. Thế nhưng, hình ảnh "anh hùng" và câu chuyện tình Lữ Bố Điêu Thuyền lại rất hấp dẫn với đám đông đời sau, nhất là trong các tuồng cải lương, hát chèo, hát bộ, hoặc các xe bán hủ tíu, phá lấu ngoài chợ  ...:-)

Kế đến là Tào Tháo. Một nhân vật tốn nhiều bút mực của lịch sử với những tranh cãi đa chiều. Nhiều người cho rằng nói đến thời Tam Quốc thì phải nói đến 3 nhân vật chủ chốt - Tào Tháo, Quan Công, và Khổng Minh. Có lẽ vậy, vì họ là biểu tượng của "tam tuyệt" trong thời kỳ Khổng giáo, Nho giáo, Đạo giáo của TQ được coi trọng. Mặt khác, Tam quốc Chí cũng mang tư tưởng "thiên thời, địa lợi, nhân hoà" một cách rõ nét. Ba nước Ngụy, Đông Ngô, và Thục được nhiều người cho là biểu tượng của 3 yếu tố đó. 

Thực ra cho tới giờ mình vẫn không hiểu tại sao VN ta mỗi lúc tiêu chảy là ví von "bị Tào tháo rượt". Chứ đứng trên phương diện quân sự chính trị, Tào Tháo là một nhà quân sự rất có tài. Ông thắng vì đánh bằng não, chứ không chỉ bằng gươm. Ngươc lại với Đổng Trác và Lữ Bố, Tào Tháo “phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu”, mượn danh nhà Hán để gom người tài, tạo chính danh, kiến lập liên minh. Nổi bật là ông biết dùng người, trọng dụng mưu sĩ tướng tài như Tuân Úc, Quách Gia, Trình Dục, Hạ Hầu Đôn… Sẵn sàng chấp nhận người có quá khứ phức tạp nếu họ có năng lực. Tào Tháo có chiến lược dài hạn, có nguyên tắc. Khi ra trận không cần thắng tất cả các trận, mà chỉ cần thắng đúng thời điểm. Khi yếu, dám rút, dám nhịn, dám thua, dám thỏa hiệp khi cần. Ông biết xây dựng hệ thống, tổ chức quân đội, hậu cần, pháp luật. Quan trọng nhất là biết biến quyền lực cá nhân thành quyền lực thể chế !

Nôm na, Đổng Trác, Lữ Bố, và Tào Tháo là biểu tượng cho 3 con đường quyền lực trong thời loạn lạc. Tuy nhiên, lịch sử xưa nay không luôn chọn kẻ mạnh nhất, mà nó chọn kẻ hiểu được thời thế, biết mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy của thời cuộc, giữa bạo loạn và trật tự, giữa quyền lợi và xung đột.

Rõ ràng, Đổng Trác dựa vào một thứ quyền lực không có gốc rễ, không xây dựng được niềm tin, mà chỉ tích lũy oán hận. Ông nắm triều đình bằng cách gieo rắc sự sợ hãi, áp đặt, một dạng quyền lực thuần bạo lực, không cần sự đồng thuận, không cần đạo lý, cũng không cần lòng người. Những loại quyền lực mang tính nhiễu loạn như vậy thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, dễ dàng mất đi khi thế lực chỗ dựa (Lã Bố) không còn. Vả lại, một khi quyền lực chỉ dựa trên nỗi sợ, kẻ cầm quyền tất yếu phải sống trong vòng vây của chính thuộc hạ. Cái chết của Đổng Trác dưới tay Lữ Bố, vì thế, không phải là một hành vi phản loạn bất ngờ, mà là hệ quả tất yếu. Nho gia gọi đó là quyền lực không chính danh, chỉ tạo ra bất ổn; còn Đạo gia thì cho rằng, thứ gì đi ngược tự nhiên, sớm muộn cũng tự diệt.

Còn Lữ Bố là hiện thân của sức mạnh thuần tuý. Trên chiến trường ông là cơn bão, trong tiểu thuyết ông là biểu tượng. Nhưng trong lịch sử, ông lại là một con người không thuộc về thời đại mình đang sống. Thời loạn không cần anh hùng đơn độc, nó cần những người biết giữ đất, giữ lòng người, giữ lòng tin và lòng trung thành, kể cả khi phải nuốt nhục chịu đựng. Lữ Bố phản Đinh Nguyên, giết Đổng Trác, thay chủ như thay áo. Võ công có thể khiến người khác khiếp sợ, nhưng không thể khiến họ tin cậy. Lữ Bố không có mưu sĩ lớn, không nền tảng chính trị, không hệ thống tổ chức. Bởi vậy Lữ Bố luôn thắng trận, nhưng luôn thua cuộc. Ông giống Achilles hơn là Odysseus. Và lịch sử, cũng như chiến tranh, thường đứng về phía Odysseus !

Tào Tháo thì ngược lại, là một kẻ hiểu rõ bản chất của thời thế. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng Tào Tháo là gian hùng. Nhưng nếu bỏ qua những nhận định theo kiểu quán tính đó, thì quả nhiên Tào Tháo là người nhìn thấu thời cuộc. Tuy nhiên ông cũng là người có những khuyết điểm lớn tạo ra những bất đồng như đa nghi, độc đoán, vị kỷ. Ông không phải là người nhân từ nhất, cũng không phải người chính nghĩa nhất, nhưng ông là người tỉnh táo nhất. Khi thiên hạ loạn, ông không cố gắng làm thánh nhân. Ông làm người "quản lý" sự hỗn loạn đó. “Phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu” không chỉ là mưu mẹo chính trị, đó là sự hiểu biết sâu sắc rằng chính danh vẫn còn giá trị xử dụng, ngay cả khi đạo đức xã hội đã rạn nứt. Tào Tháo mượn vỏ Nho gia để vận hành phép nước, nhưng trong nội tâm ông lại hành xử rất Đạo gia - linh hoạt, tùy thời, không chấp trước. Ông dùng người giỏi mà không đòi họ phải hoàn hảo. Ông chấp nhận bị mang tiếng uy hiếp thiên tử, miễn là giữ được trật tự. Tào Tháo không thắng vì mạnh hơn Lữ Bố, cũng không vì tàn bạo hơn Đổng Trác, mà ông thắng vì hiểu rằng lịch sử là trò chơi của hệ thống, không phải của cá nhân.

Vậy lịch sử đã chọn ai ? Đổng Trác đại diện cho thứ quyền lực thô thiển, chết nhanh. Lữ Bố đại diện cho anh hùng cá nhân, không bền vững. Tào Tháo đại diện cho trí tuệ có tổ chức, nên đã để lại di sản cho nhà Nguỵ. Tất nhiên xưa nay lịch sử không phán xét bằng lời nói, mà bằng kết cục. Kết cục của Tam Quốc rất rõ, trong thời loạn, người hiểu quy luật, sẽ sống sót và viết tiếp câu chuyện lịch sử, còn kẻ chỉ tin vào sức mạnh hoặc hào quang cá nhân, sẽ trở thành một chương bi kịch bị lãng quên !

Giờ mạn phép "bàn loạn" đến một vài biểu tượng của đạo đức và tài năng trong Tam Quốc Chí. Đó là những nhân vật luôn được hậu thế kính trọng, trong đó nổi bật nhất là Khổng Minh Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Quan Công. Và cuối cùng, tất nhiên là một nhân vật không thể thiếu, Tư Mã Ý, người trụ lại sau cùng của cuộc chơi thời Tam Quốc :-) .

Trước tiên hãy nhìn lại lịch sử của nhân loại, có một nghịch lý rất cay đắng, đó là những người được yêu mến nhất, không phải lúc nào cũng là người chiến thắng sau cùng. Đọc Tam Quốc cũng vậy, lòng người luôn nghiêng về Lưu Bị nhân nghĩa, Quan Công trung liệt, và Khổng Minh mưu lược, trung thành, tận tụy đến chết. Nhưng đáng tiếc họ không phải là người chiến thắng. Họ giống như những vì sao sáng rực rỡ, có phương hướng đạo đức rõ ràng, và chết trong tư thế “đẹp”, đầy lý tưởng. Nhưng thực tế lịch sử không thưởng công cho vẻ đẹp đạo đức, mà giữ lại những con người biết cách tồn tại, sống sót lâu nhất trong giòng dịch chuyển của đời sống vô thường. Và người đó là Tư Mã Ý.

Một khi nhắc đến Khổng Minh, ai lại chẳng nể phục? Ngay cả kẻ thù cũng phải kính trọng, nể nang ông. Nhớ hồi nhỏ, có một thời mình mê mẫn nhân vật này mà bỏ học bỏ hành. Đi lục lọi tìm đọc đủ thứ sách, để mong được "trên thông thiên văn, dưới rành địa lý" như Khổng Minh. Lớn lên có lúc ngồi nhìn lại, phì cười một mình :-).

Quả nhiên Gia Cát Lượng là một hình ảnh cao quý - trung, tận, trí, liêm - gần như là lý tưởng hoàn hảo của Nho giáo, và là hình ảnh khuôn mẫu của người quân tử Á đông. Nhưng chính vì vậy, ông không thể chấp nhận thua cuộc được. Hình ảnh của ông phải được hoàn hảo, phải chính nghĩa, phải an dân, phải được kính trọng, phải được tôn vinh, kể cả nhiều lần vấp ngã của bản thân. Đó cũng chính bi kịch của người còn chấp trước “chính nghĩa phải thắng” ! 

Khổng Minh 5 lần đem quân Bắc phạt, cho đến khi kiệt sức qua đời, nhưng vẫn thất bại. Ông không thua vì kém trí, không thua vì kém đạo đức, mà thua vì thế lực và thời thế, vì sự bám chấp của bản thân. Khổng Minh phải trung với Hán, phải vì chính nghĩa, phải biết trước thiên hạ, phải tạo phúc cho bá tánh, phải ra tay trước đối phương .v.v... Ông đánh trận như đang gánh đạo lý của cả thiên hạ, và gánh nặng đó thuộc về tự ngã của bản thân và sự chấp trước của một sứ mệnh hoàn hảo !

Tư Mã Ý thì không. Tư Mã Ý không mang giấc mộng phục Hán. Ông cũng không cần chứng minh mình “đúng”. Đây là sự khác biệt giữa người còn trụ vào ngã "đạo đức", và người đã buông vai diễn lịch sử. Khổng Minh chết vì tận lực, Tư Mã Ý sống vì… không tận lực khi chưa đến lúc !

Tư Mã Ý không có “hình ảnh” để giữ. Ông không cần chết đẹp, chỉ cần sống đủ lâu, cho nên có thể nói rằng Tư Mã Ý hiểu được “vô ngã" danh vị. Khi Gia Cát Lượng dùng kế sĩ nhục, gởi tặng cho bộ yếm phụ nữ, ông đã ung dung mặc vào đi trước ba quân, chỉ quan tâm hỏi thăm sức khoẻ của Khổng Minh. Không phải ông lãnh đạo nào cũng làm được điều này. Nếu phải so sánh Tào Tháo với Tư Mã Ý, thì tạm gọi Tào Tháo là người hiểu được vô thường, còn Tư Mã Ý là người… ở yên trong vô thường. Tào Tháo không tự xem mình là thánh nhân. Ông cũng không cố gắng đóng vai kẻ phản diện một cách lãng mạn. Ông hành xử như một người biết rằng mình đang lội trong bùn, và không giả vờ rằng bùn là hoa sen. Tào Tháo chấp nhận để người đời nguyền rủa mình. Đây là một dạng vô ngã nghịch lý, không bám vào hình ảnh đạo đức của bản thân. Trong PG, gọi đó là “không trụ vào nơi tướng mà hành đạo”. Tào Tháo không trụ vào danh xưng trung thần, danh bạo chúa, danh anh hùng gì cả, mà ông chỉ dựa vào kết quả thực tế. Tất nhiên, Tào Tháo không phải là người giác ngộ, càng không phải là Phật tử, nhưng khác nhau là Tào Tháo nhìn thấy sự vô thường của thời cuộc, và chủ động can thiệp. Còn Tư Mã Ý thì cũng nhìn thấy vô thường nhưng không vội hành động, mà kiên nhẫn đợi chờ. Đây là điểm khác biệt then chốt !

Ở Tư Mã Ý, người ta dễ dàng nhận thấy ông hội đủ những tính cách rất quan trọng, là nhẫn nhịn và quan sát, không cưỡng cầu, không bộc lộ. Ông không tìm cách “làm nên thời đại”. Ông chỉ để thời đại tự bào mòn làm lộ diện sự khiếm khuyết, và những ham hố danh lợi vô bổ chung quanh. Trong khi các "anh hùng" khác muốn thắng nhanh, nổi tiếng, ham hố quyền lực trong thời loạn, thì kẻ ẩn nhẫn chỉ cần… sống sót. Tư Mã Ý đã chọn cách này để tồn tại dưới trướng Tào Tháo, ung dung chờ đến phiên mình :-) .

Nhiều người cho rằng Tư Mã Ý nể sợ Tào Tháo, mình thì không nghĩ vậy, nhưng ông là một kẻ biết ẩn mình. Tư Mã Ý là một người vô cùng cao ngạo nhưng biết tiết chế bản thân. Nếu có một người để TMY nể phục về tài năng, thì người đó là Khổng Minh. Nhưng TMY đã nhanh chóng nhận ra ông có lợi thế hơn KM về thời gian và sức khoẻ. Còn đối với Tào Tháo và các vua con, giòng dõi, hậu duệ của Tào Tháo và nhà Nguỵ, không là gì trong mắt của TMY, nhưng bên ngoài ông vẫn nghi lễ chờ thời ! 

Trong Thiền tông PG có câu nói “Nhẫn không phải để thắng người, mà để thắng thời gian". Khi tất cả các anh hùng danh tiếng lần lượt mệt mỏi ra đi, Tư Mã Ý vẫn còn đó, không phải vì ông mạnh hơn, mà vì ông ít bị tiêu hao hơn. Cho nên nhiều nhà phân tích thời cuộc ngày nay, họ không lo ngại bởi một nhân vật nào đó to tiếng, ầm ĩ khoe khoang, mà họ e ngại những kẻ biết dấu mình, biết thổi phồng sức mạnh của đối phương, biết nhẫn nhịn, sẵn sàng bơm bong bóng cho những kẻ hám danh, kéo dài thời gian chuẩn bị, đợi chờ thời cơ thích hợp đằng sau hậu trường !

Tất nhiên, lịch sử sẽ không yêu Tư Mã Ý, bởi vì ông không cho ta một hình mẫu đạo đức để cho thiên hạ ngưỡng mộ. Ông không chết vì nghĩa, cũng không sống vì lý tưởng cao đẹp, cũng không để lại lời trăn trối cảm động lâm ly bi đát gì. Ông chỉ để lại một kết cục, đó là kết quả của nhân duyên, chứ không phải công trạng đạo đức. Cuối cùng ông có thể ung dung lật đổ một triều đại để lập ra một triều đại mới. Lịch sử cần người như Tư Mã Ý, nhưng văn học và lòng người thì không !

(Mở ngoặc chút, nhớ hồi nhỏ mình coi Tam quốc Chí, ghét nhất là Tư Mã Ý. Sau này lớn lên, nhìn hình ảnh họ Đặng cuối rạp mình trước tổng thống Carter trước khi xua quân tấn công giết chóc dân VN năm 1979, mình cứ ám ảnh là Đặng Tiểu Bình và Tư Mã Ý có nhiều điếm tương đồng. Tuy nhiên không ai phủ nhận rằng sở dĩ TQ có được ngày hôm nay là nhờ công lớn của Đặng Tiểu Bình, một đại công thần của TQ hiện đại. Bởi vậy nhiều khi đọc về những cuộc chiến tranh hoặc các diễn biến chính trị thời cận đại gần đây, nhiều người cứ nghĩ rằng (hoặc mong muốn rằng) kẻ thắng cuộc phải là kẻ đúng, kẻ nhân từ, hoặc là người tốt, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Xưa nay kẻ thắng cuộc chưa chắc là kẻ đúng, cũng không hẳn là "người tốt" theo nghĩa đạo đức ở đời, mà là những kẻ không bị cuốn đi, thậm chí là kẻ có nhiều thủ đoạn hơn hoặc vô liêm sĩ. Nhưng đáng tiếc đó lại là sự thật, bởi thực tế không phải là câu chuyện cổ tích hoặc các phim ảnh cao bồi Viễn Tây).


Còn Quan Công, Lưu Bị thì đơn giản hơn, hoàn hảo hơn, bởi vì họ là những anh hùng chính diện, là những cái "đẹp" lý tưởng của Nho giáo, "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", "tam cương ngũ thường" ... Tuy nhiên, khi con người quá bám víu, trụ vào những giá trị đạo đức mang tính quy ước, thì lại vướng phải những trở ngại to lớn hơn của sự chấp trước. Quan Công trung nghĩa đến mức trở thành biểu tượng. Lưu Bị nhân ái đến mức được người đời tôn kính. Trong PG, quan niệm rằng chấp "thiện" cũng là chấp, chứ không phải chỉ có chấp "ngã", chấp "pháp" .... Cho nên trong kinh điển có những câu chuyện nói về các vị tu sĩ, tu hoài, tu miết, làm toàn chuyện tốt chuyện thiện, thông làu kinh sách, nhưng không thể đạt tới sự giác ngộ được. Còn đời thường tục đế thì thôi khỏi nói rồi, mở mắt ra là gặp "nhị nguyên", chấp thiện chấp ác khắp mọi nơi :-) .

Nôm na, Quan Công chấp "trung", không chịu linh hoạt, làm mất Kinh Châu. Lưu Bị chấp "nghĩa", xuất quân báo thù, dẫn tới đại bại Di Lăng. Cả hai đều đặt đạo lý lên trên thời thế. Trong một thế giới đổ vỡ, điều đó tạo ra một bi kịch đẹp, chứ không tạo ra được một kết cục có hậu. 

Nhìn lại lịch sử, điều nguy hiểm nhất của quyền lực không phải là tàn bạo, mà là tự đồng hóa mình với quyền lực. Khi con người không còn phân biệt được đâu là mình, đâu là vai diễn, đâu là chức vị, thì mọi quyết định đều dễ trở thành mù quáng. Nếu nhìn Tam Quốc Chi như một bài học, ta có thể tóm gọn rằng ai cũng vướng vào những dạng chấp trước của riêng họ. Lưu Bị và Quan Công, thiện nhưng còn chấp. Khổng Minh, trí nhưng còn trụ.Tào Tháo, tỉnh nhưng còn tạo nghiệp. Tư Mã Ý, nhẫn nhục, chờ đợi, không làm biểu tượng nhưng âm thầm nuôi dưỡng tham vọng. Tuy nhiên, trong thế giới vô thường, kẻ không làm biểu tượng thường là kẻ sống sót sau cùng. Đó không phải là chiến thắng của đạo đức, cũng không phải chiến thắng của gian trá, mà là chiến thắng của sự hòa tan vào thời thế. Một chiến thắng lạnh, nhưng rất thật, đúng với bản chất của lịch sử !

Nhưng rốt cuộc thì mọi chuyện vẫn không thể thoát khỏi quy luật vô thường của tạo hóa. Hết triều đại này sẽ đến triều đại khác, hết thời kỳ này đến thời kỳ kia, thịnh suy thời nào cũng có, hết Tào Ngụy rồi đến Tây Tấn cũng bị diệt vong. "Vận nước" của quốc gia nào rồi cũng nổi trôi theo từng giai đoạn, có lúc may mắn, gặp người lãnh đạo đủ tầm, đủ đức, đem lại sự an yên và thịnh vượng lâu dài cho dân tộc. Ngược lại có lúc đất nước gặp những ông vua háo danh, háo sắc, kém tài, để lại sau lưng những di sản và năm tháng đau thương, chia rẽ, đổ nát, mà phải tốn nhiều năm tháng mới khôi phục lại được.

Lịch sử thế giới đã quá dài, quá nhiều thăng trầm, để những bài học căn bản ấy không còn là điều xa lạ với bất kỳ ai muốn nhìn, muốn học. Cho nên, tin tức thời sự thì cứ đọc cho biết, cho “cập nhật” với thiên hạ. Muốn cãi thì cứ cãi, để trau dồi khả năng hùng biện, giảm thiểu các căn bệnh đãng trí mau quên, nhưng cũng mong đừng bám chấp quá sâu vào điều đó. Lại càng không nên trụ vào những ông chú “Vịt teo” hay các thông tấn xã bàn phiếm tự phát. Cực đoan bao giờ cũng không phải là điều tốt đáng theo đuổi. Mọi thứ trong cuộc sống đều vận hành theo quy luật của nó. Bám chấp cưỡng cầu chỉ làm khổ mình, khổ người.

Nhu cầu muốn chứng tỏ và được chứng tỏ của loài người thì lúc nào cũng tồn tại. Khi nào không còn nhu cầu ấy nữa, có lẽ tâm thức đã rẽ sang một lối đi khác. Biết đâu lúc đó lại được ngắm nhìn nhiều hoa thơm cỏ lạ hơn ?

Thôi, phiếm chút cho vui. Chúc tất cả mọi người một cuối tuần bình an, thân tâm an lạc.

PN 



Wednesday, December 24, 2025

Chúc mừng Giáng Sinh và Năm mới 2026 !


Năm nay, thời tiết ở Mỹ lạnh sớm hơn mọi năm. Mùa lễ hội Giáng Sinh cũng có vẻ trầm lắng hơn, ít mua sắm và chuẩn bị hơn mọi khi. Một phần vì kinh tế khó khăn, phần khác vì tâm trạng bất an len lỏi trong đời sống nhiều người, nhất là những cộng đồng di trú, kể cả những người có quy chế hợp pháp. Nhưng dẫu thế nào, đêm Giáng Sinh vẫn là đêm của những cõi lòng rộng mở, đêm của thương yêu và chia sẻ, nơi con người tìm về với gia đình, bạn bè, và những ấm áp bình dị. Nhiều gia đình đã dựng cây Noel từ sau lễ Tạ Ơn, để tận hưởng hương vị lễ hội suốt mùa đông, đến tận giữa tháng Giêng mới gỡ xuống.

Nhân có một số bạn bè hỏi thăm về nguồn gốc của ngày 25/12, mình xin tóm lược đôi chút. (Xin lỗi mình vốn không phải là người Ki tô giáo, nên nếu có nhẫm lẫn gì thì các bạn ý kiến chỉnh sửa dùm nhé). Từ lâu, phần đông quen nghĩ rằng Giáng Sinh (25/12) là ngày Chúa Jesus được sinh ra. Nhưng theo đa số học giả và sử gia Kinh Thánh, Chúa Hài Đồng không sinh vào ngày ấy, thậm chí cũng không sinh vào năm ấy. Tuy nhiên, điều đó không ảnh hưởng gì đến ý nghĩa tôn giáo của lễ Giáng Sinh, bởi nhân loại đã chọn một ngày để mừng “ánh sáng đến với thế gian”, một biểu tượng của niềm hy vọng cứu rỗi, và niềm vui được chia sẻ giữa con người với nhau.

Dựa vào nhiều dữ kiện lịch sử, các nhà nghiên cứu cho rằng Chúa Jesus có thể đã sinh vào mùa Xuân hoặc mùa Thu, khoảng năm thứ 4 đến thứ 6 trước Công Nguyên. Vua Herod chết vào năm 4 BCE, mà Jesus thì sinh trước khi Herod mất (vì Herod chính là người ra lệnh truy sát Hài Nhi). Thêm vào đó, đoạn Kinh Luca nói về các mục đồng canh giữ đàn chiên ban đêm, điều vốn chỉ xảy ra vào mùa Xuân hoặc mùa Thu, khi thời tiết ấm, thuận lợi cho đàn cừu. Các cuộc kiểm tra dân số La Mã thời đó cũng diễn ra vào cuối mùa thu, khi nông dân rảnh rỗi sau mùa gặt.

Vậy, vì sao Đế quốc La Mã chọn ngày 25/12 làm lễ Giáng Sinh?

Ngày 25/12 vốn là ngày lễ ngoại giáo lớn của La Mã cổ, lễ Sol Invictus, tôn vinh "Thần Mặt Trời Bất Khả Chiến Bại". Ngày lễ này cũng mang ý nghĩa mặt trời "hồi sinh" sau ngày Đông chí, và là một lễ hội cực kỳ quan trọng của dân La Mã. Cuối tháng 12 còn có lễ Saturnalia (17–24/12), mùa hội hè, tặng quà, đèn đuốc và tiệc tùng. Khi Kitô giáo trở thành quốc giáo La Mã, Giáo hội chọn ngày 25/12 để giúp dân ngoại dễ tiếp nhận lễ mới, hòa nhập vào các truyền thống quen thuộc. Năm 354, Giáo hoàng Liberius chính thức ghi ngày 25/12 là “Dies Natalis Christi” – Ngày Sinh của Đức Kitô. Từ đó, chúng ta có đêm Giáng Sinh 24/12 và ngày 25/12 như ngày nay.

Lịch sử của ông già Santa Claus và cây Noel cũng là câu chuyện giao thoa văn hóa thú vị. Hình ảnh ông già Noel (Santa Claus) ngày nay là sự kết hợp của ba nguồn gốc lớn. Thứ nhất là ông thánh Nicholas của Ki tô giáo, nổi tiếng vì giàu lòng bác ái, cứu giúp trẻ em và người nghèo. Kế đến là ông thần Odin của các nước Bắc Âu, ông thần có giai thoại thường cưỡi ngựa bay (Sleipnir) trên bầu trời vào mùa đông để ban thưởng cho trẻ em. Còn nguồn gốc thứ 3 thì hơi thực dụng chút, là do mấy ông Mỹ vẽ vời ra. Những nguời Hà Lan ngày xưa gọi ông Thánh Nicholas là "Sinterklaas". Khi di cư sang Mỹ, họ mang theo truyền thống này. Mấy ông Mỹ đọc nhại riết, rồi từ chữ "Sinterklaas" trở thành "Santa Claus", kiểu như mấy ông Tây ông Mỹ học tiếng Việt, đọc riết chữ "đảm đang" thành "dâm đãng" :-). Nhưng phải nói công trạng lớn nhất của người Mỹ là đã “hoàn thiện” được ông già Noel như ngày hôm nay. Một ông già Santa cưỡi xe tuần lộc, vào nhà bằng ống khói, có một thân hình mập mạp, râu ria và vui tính. Riêng chuyện ông già Noel luôn mặc áo đỏ viền trắng, thì công trạng thuộc về .... ông Trump. Giỡn chút thôi, chứ công cán thuộc về hãng nước ngọt Coca Cola :-). Vào thập niên 30+, ông họa sĩ Haddon Sundblom đã vẽ ông già Noel trong chiến dịch quảng cáo Coca Cola, mặc áo đỏ, râu trắng, bụng phệ, hiền hòa, vui vẻ ... và từ đó hình ảnh ông Santa đỏ trắng bắt đầu phổ biến toàn cầu cho đến nay. Không biết sau này có ai đó lại sáng kiến một hình mẫu ông già Noel mới, hoặc đổi tên lại cho giống ông xoài, ổi, nào nữa không, thì chưa biết :-).

Tương tự, lịch sử cây Noel cũng có nguồn gốc từ tục thờ cây xanh trong mùa đông của châu Âu cổ đại. Rồi nước Đức là nơi biến nó thành cây Giáng Sinh thật sự, và Anh và Mỹ đưa nó thành biểu tượng lễ hội Giáng Sinh toàn cầu. Cây Noel tượng trưng cho sự sống trong mùa đông, hy vọng, ánh sáng thắng bóng tối, và sự đoàn tụ gia đình. Những ý nghĩa này theo các nhà nghiên cứu đã được tồn tại rất lâu từ trước thời Chúa Jesus ra đời. 

Xưa nay vẫn vậy, đằng sau mỗi biểu tượng hoặc tục lệ bao giờ cũng bắt đầu bằng những điển tích hoặc câu chuyện văn hoá địa phương thú vị, rồi lan toả và ảnh hưởng nhiều nơi. Xét cho cùng, mọi biểu tượng đều vô thường, được xây dựng và tái tạo theo tâm thức con người qua từng thời đại.



Mấy hôm trước, đi shopping mua quà Noel với con, thấy một nhóm biểu tình ngay trước trung tâm thương mại, giăng biểu ngữ kêu gọi nhân viên ICE rời khỏi thành phố. Bốn mươi năm sống trên đất nước này, mình chưa hề thấy cảnh tượng như thế, nhất là vào những ngày vốn rất an bình của mùa lễ hội Giáng sinh. Trong lòng dấy lên một chút gì xót xa khó tả !

Lâu nay ai cũng biết đất nước Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ (USA) được xây dựng từ những đôi tay và khối óc của người di dân. Từ buổi lập quốc đến nay, Mỹ vẫn là miền đất hứa, nơi cưu mang nhiều thế hệ di trú và tị nạn nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào. Những hàng dài trước các lãnh sự quán Mỹ trên khắp thế giới cho thấy rằng, dù đất nước có những thăng trầm hoặc có những thời kỳ chưa hoàn thiện lắm, nước Mỹ vẫn là biểu tượng của hy vọng, của cơ hội, của những giấc mơ được bắt đầu nuôi dưỡng.

Người tị nạn (refugees) đến đây theo nhiều con đường khác nhau, tị nạn chính trị, tị nạn "giáo dục", tị nạn tôn giáo, tị nạn dân chủ…v.v. Người di trú (immigrants) cũng vậy, có nhiều lý do khác nhau để ra đi. Nhưng đằng sau tất cả những danh xưng hình thức đó, họ đều có một lý do chung. Đó là rời bỏ quê hương để tìm một nơi tốt đẹp hơn cho bản thân và cho thế hệ mai sau. Tất nhiên, đại đa số người tị nạn nếu không vì hoàn cảnh bắt buộc họ sẽ không chọn lựa rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Nói đến đây, mình chợt nghĩ đến một trong những gia đình tị nạn đầu tiên trong lịch sử, đó là gia đình của Chúa Jesus - Mary, Joseph và Hài Nhi Jesus. Họ phải bỏ xứ ra đi, chạy trốn sự bạo tàn của vua Herod, một kẻ lo sợ mất quyền lực đến mức ra lệnh tàn sát trẻ sơ sinh ở Bê-lem (Bethlehem). Joseph bồng vợ con chạy sang Ai Cập, một đất nước xa lạ về ngôn ngữ, văn hóa và niềm tin. Họ ra đi mang theo không gì khác hơn ngoài nỗi lo sợ và một tia hy vọng mong manh. Về bản chất, đó chính là những người tị nạn, và cũng là câu chuyện mở đầu của lễ Giáng Sinh.

Nhiều người từng hỏi, vậy Mary và Joseph có phải là tị nạn chính trị không? Kinh Thánh chép rằng sau khi Jesus sinh ra, vua Herod nghe tin "một Vị Vua mới" xuất hiện nên ra lệnh giết tất cả trẻ em trai dưới hai tuổi ở Bê-lem (sự kiện này gọi là The Massacre of the Innocents - Cuộc tàn sát các hài nhi vô tội). Được thiên sứ báo mộng, Joseph phải đem Mary và Chúa Hài đồng Jesus trốn sang Ai Cập. Họ chạy trốn vì bị truy sát bởi một chế độ độc tài, đó chính là tị nạn chính trị. Họ sống ở Ai Cập cho đến khi Herod chết mới trở về Nazareth. Vì thế, Mary, Joseph và Jesus được xem là những người tị nạn chính trị đầu tiên trong lịch sử Ki tô giáo. Cũng vì lẽ đó mà trong thần học hiện đại, việc giúp đỡ người tị nạn được xem như một nghĩa vụ đạo đức thiêng liêng.

Bởi vậy, nếu nhìn dưới ánh sáng lịch sử, Giáng Sinh không bắt đầu bằng ánh đèn lung linh, mà bằng nỗi bất an và hành trình chạy trốn của một gia đình nghèo. Nhiều người tị nạn ngày nay cũng vậy, họ rời quê hương với một phần ký ức đứt gãy và một tương lai chưa định hình rõ rệt.. Trong số chúng ta, bản thân nhiều người hoăc cha mẹ, ông bà tổ tiên, từng là người tị nạn. Họ mang trong mình hai quê hương, một quê nhà ở phía sau, một quê người trước mặt, và trong lòng là một khoảng trống khó đặt tên. Họ sống âm thầm giữa đất khách, đi qua những góc khuất mà hiếm khi được lịch sử nhắc đến.

Trong mỗi người tị nạn đều có một “Bê-lem” riêng, nơi họ bắt đầu, nơi họ rời bỏ, nơi họ vẫn mãi không thể quên. Nhưng họ vẫn phải bước tiếp, cũng như Joseph và Mary, bởi cuộc đời không có một con đường quay lại trọn vẹn. Vì thế Giáng Sinh không chỉ nói về việc Chúa Hài đồng được sinh ra, mà còn là câu chuyện về hành trình của những con người bé nhỏ trước quyền lực lớn, về sự hy sinh thầm lặng của các bậc cha mẹ, và về sức mạnh âm thầm của niềm hy vọng.

Giáng Sinh cũng nhắc chúng ta rằng trước khi là câu chuyện thiêng liêng của đấng Cứu thế, đó còn là câu chuyện của con người - Một đứa trẻ sinh ra trong máng cỏ, một gia đình lầm lũi chạy trốn, và những bước ngoặc đầu đời của một hy vọng mong manh. Nhưng đáng tiếc là đến ngày hôm nay, câu chuyện "rời bỏ quê hưong đi tìm đất sống" ấy vẫn đang tiếp tục tái diễn ở nhiều nơi, khắp các biên giới, các trại tị nạn ... Vẫn còn đó, những phận người nhỏ bé vô danh, trốn chạy tìm nơi nương náu, ngay cả trên nước Mỹ, nơi từng là biểu tượng hy vọng của bao con người bất hạnh từ những vùng đất xa xôi. Hy vọng trần gian vẫn luôn nhớ rằng lễ Giáng Sinh bắt đầu từ nỗi khổ của một gia đình tị nạn, và sự sống đã được nuôi dưỡng và lớn lên nhờ lòng nhân ái của những người đã dang tay đón nhận họ.

Mở ngoặc chút nói thêm về câu chuyện an ninh di dân di trú. Xưa nay ở đâu cũng vậy, cho dù là người tị nạn (refugees) hay người di trú (immigrants), cho dù nguồn gốc xuất xứ dân tộc khác nhau, trình độ văn hoá khác nhau, nhưng ai cũng mong muốn đất nước họ sinh sống được an yên, không đầy rẫy kẻ xấu, tội phạm, hoặc người cư trú bất hợp pháp. Ai cũng muốn con cái họ có một môi trường phát triển tốt, gia đình yên ổn làm ăn sinh sống, tuân thủ đầy đủ bổn phận công dân, trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh đó, con người cũng mong được đối xử bằng sự tử tế và bình đẳng. Không ai muốn chứng kiến cảnh chính trị hóa đời sống, hay vũ khí hoá các vấn đề xã hội, lợi dụng danh nghĩa “hợp pháp” để cậy mạnh hiếp yếu, kỳ thị, chà đạp nhân phẩm người khác. Bởi dù khác màu da, khác tiếng nói, khác hoàn cảnh, nhưng phẩm giá con người vẫn luôn là điều đáng được tôn trọng trước tiên.

Nhân mùa Giáng Sinh và năm mới 2026 sắp đến, kính chúc quý anh chị em, bằng hữu và gia đình một đêm Giáng Sinh an lành, và một năm mới nhiều sức khỏe, bình an, may mắn.

Merry Christmas and Happy New Year!


PN (2025)



Saturday, December 13, 2025

Vài suy nghĩ vụn về "Nhị Nguyên" trong PG.


Nói đến lý thuyết “nhị nguyên” thì đối với nhiều người không còn xa lạ gì nữa. Từ thuở bập bẹ, tóc chỏm đuôi gà, khi mà tâm trí chưa đủ khả năng phân tích hay nhận định vấn đề, thì cuộc sống, gia đình, nhà trường, xã hội ... đã bắt đầu định hình chúng ta bằng những "cặp phạm trù" hay khái niệm nhị nguyên dựa trên các quy ước vùng miền với ngôn ngữ văn hoá nhất định nào đó. Những khái niệm ấy, theo thời gian, trở thành những “mặc định nhận thức” đi cùng năm tháng và lớn lên cùng với chúng ta. Từ đó, phần lớn quan niệm về chánh-tà, đúng-sai, thương-ghét, tốt-xấu ... của mỗi cá nhân được xây dựng trên nền tảng của tư duy nhị nguyên này.

Nói một cách đơn giản hơn, từ nhỏ, đọc truyện xem phim đã "biết" bên nào là thiện, bên nào là ác. Chơi với bạn bè thì học phân biệt “thương-ghét”, “quân tử-tiểu nhân”. Lớn lên chút, tiếp xúc nhiều hơn với sách vở và xã hội, có thêm chút đỉnh kiến thức, lại củng cố những phân định như đúng-sai, thành công-thất bại, sang-hèn, giỏi-dở, thông minh-ngu dốt... Đến khi đất nước bước vào chiến tranh, sự phân đôi càng rõ, địch-ta, quốc gia-cộng sản, bên này-bên kia, thương mến-hận thù.... Khi chiến tranh kết thúc, những đối lập mới lại xuất hiện như lý lịch tốt-xấu, miền Nam-miền Bắc, quân ta-quân “ngụy”... Một người lỡ nói điều trái tai hay bày tỏ quan điểm phản biện, dù chẳng động dao động thớt gì, cũng dễ bị gán nhãn mác là “phản động", hoặc thành phần nọ kia .v.v.. Vô tình hay cố ý, tất cả đều là những biến dạng của tư duy nhị nguyên, cứ không phải “ta” thì mặc nhiên trở thành “địch” !

Rồi ngay cả khi có nhiều người may mắn được ra nước ngoài sinh sống, học hành, thì những mô thức nhị nguyên này vẫn được tiếp tục mang theo. Có khác chăng là thay vì dùng từ “phản động”, người ta chuyển sang thủ sẵn vài chiếc “nón cối” trong đầu. Hễ ai nghịch ý mình, hoặc “yêu nước” theo cách không giống mình, thì lập tức ban phát cho vài chiếc nón cối, rồi tranh chấp địch-ta cho đến hết phần đời còn lại. 

Nhưng đó mới chỉ là câu chuyện quê nhà. Vậy dân bên Tây bên Tàu có khá hơn không?

Tất nhiên là có khác, khác văn hoá, khác hình tướng, khác thể chế... Nhưng xét về tư duy nhị nguyên, thì cũng chẳng khác bao nhiêu. Đặc biệt là công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, thông tin càng đa dạng, thì những thiên kiến nhận thức và tư duy đối lập ngày càng nhiều. Ví dụ như chuyện chính trị chính em tại Mỹ, trong những năm gần đây xuất hiện nhiều hiện tượng phân hoá, tư duy đối lập rất khôi hài, thậm chí ngô nghê. Không rõ khởi đầu từ đâu, mà từ đen cho đến trắng, từ ướt cho đến ráo, từ cơm cho đến đậu, từ ông dân cho đến ông quan, từ người chỉ đọc báo mạng, cho đến kẻ chỉ nghe đài FB, YouTube, Tiktok… đa số mặc định như thế giới này chỉ còn hai phe CH và DC. Ai không thích cánh tả thì bị xếp vào cánh hữu; ai phê phán CH thì lập tức bị gán là DC. Ai không ưa Biden thì chắc chắn là khoái Trump...v.v... Lối suy nghĩ này na ná chuyện tiếu lâm bên nhà, hễ chán cơm thì phải tìm phở; hễ vợ là “địch” thì bồ bịch là “ta". Và cũng chính vì thế, tư tưởng nhị nguyên có đất dụng võ, có đầy đủ lý do chính đáng để tiếp tục xoay vòng, lẩn quẩn luân hồi, bám riết lấy con người đời này sang đời khác :-). (Dĩ nhiên, không phải ai cũng suy nghĩ như vậy. Vẫn có nhiều người rất tỉnh táo, sáng suốt, phân biệt rạch ròi, không vướng vào tư duy "nhị nguyên", nên không hề bị lôi cuốn vào những câu chuyện lẩm cẩm ấy).

Nhân nhắc đến “nhị nguyên”, mình cũng muốn tản mạn đôi chút về đề tài này. Nhưng đây là một lý thuyết vô cùng quan trọng trong PG, mình không dám nhận là hiểu biết thấu đáo, lại càng không có ý giảng thuyết hay tranh luận đúng sai, chỉ xin chia sẻ đôi cảm nghĩ cá nhân, nên ai thích thì tìm đọc thêm nghen. Trong triết học Ấn Độ, Advaita Vedānta (Bất Nhị), cũng như triết học phương Tây của Immanuel Kant, đều bàn đến những hiện tượng rất gần với cái gọi là “nhị nguyên”, nếu ai muốn tìm hiểu sâu hơn. Dĩ nhiên, nói đến những lý thuyết sâu sắc này là phải đụng đến vài thuật ngữ trong kinh điển PG, đôi khi hơi khó hiểu. Có nhiều tác giả viết cả cuốn sách vẫn chưa nói hết ý của tư tưởng Nhị Nguyên. Cho nên với phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, chủ yếu là đọc cho vui thôi. Mình vốn không thích sự giới hạn của ngôn ngữ, nhưng nếu không dùng ngôn ngữ thì lại chẳng diễn đạt được gì. Đây quả nhiên là một nghịch lý, mong thông cảm vậy :-) .

Trong triết học phương Tây, “nhị nguyên” thường mang nghĩa dualism, là hai thực thể độc lập như thân-tâm, hay vật chất-tinh thần. Kant thì cho rằng tâm luôn đóng vai trò trung gian, vì vậy tri giác của con người mang tính cấu trúc chủ quan. Nhưng trong Phật giáo, “nhị nguyên” không phải là cấu trúc của thế giới, mà là cách "tâm" phân chia, và đối lập hóa thực tại. Chính cái nhìn phân chia này mới là nguồn gốc của vô minh, và là chướng ngại của sự giác ngộ, giải thoát.

Phật giáo gọi đây là "nhị nguyên phân biệt" (tiếng Phạn là Dvaya), nghĩa là con người luôn bị vướng vào hai cực đối lập như có-không, còn-mất, đúng-sai, sạch-dơ, thiện-ác… Nhị nguyên chỉ xuất hiện khi con người đặt tên, đóng khung, phân chia, hoặc phán xét thế giới chung quanh bằng các khái niệm đối lập, nhưng những đối lập này không tồn tại độc lập, chúng sinh ra từ sự vận hành của Tưởng và Thức trong Ngũ Uẩn. Cho nên Phật giáo cho rằng Nhị Nguyên không phải là bản chất của vạn vật hoặc vạn pháp (theo từ ngữ của PG), mà chỉ là cách tâm phân loại. Nhị nguyên chỉ là một ảo tưởng của nhận thức, không phải thực tại khách quan. Nhị nguyên cũng là biểu hiện của chấp thủ, nguyên nhân chính là do tâm không thấy được duyên khởi và tính Không của vạn vật .


Sự giác ngộ, dưới cái nhìn của PG không phải là tích lũy tri thức, hay đạt đến cảnh giới nọ kia hoặc chức danh nào đó, mà là thấy được thực tại như nó đang là (tiếng Phạn là yathābhūta), tức thấy bằng trí tuệ vô phân biệt (nirvikalpa-jñāna). Nhưng chính tư tưởng nhị nguyên đã che lấp trí tuệ này bằng nhiều cách khác nhau.

Một trong những tác động đầu tiên của nhị nguyên là sinh ra chấp thủ. Khi có hai bên đối lập, tâm sẽ chọn một bên và loại trừ bên kia. Ví dụ như ghét phe này thì phải chọn phe kia, không ưa điều này thì lập tức ôm lấy điều ngược lại. Từ đó nảy sinh yêu-ghét, bảo vệ-chống đối, và vô số phản ứng kéo theo. Nhưng cho dù bám vào bất kỳ bên nào thì cũng dẫn đến khổ đau. Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy rằng “do chấp thủ mà khổ sinh”. Quả nhiên là vậy, bởi chấp thủ nên tâm con người khó giữ được trung đạo. Và vì thế họ không thể thảnh thơi, luôn dính mắc, không thể có được tự do thực sự .

Một luận điểm quan trọng nữa là "nhị nguyên" che lấp tính Không (emptiness). PG quan niệm vạn pháp đều vô tự tính, vô thường, và do duyên khởi. Nhưng khi tâm con người chia thế giới thành hai bên, họ gán cho sự vật những bản chất cố định. Điều này trái ngược hoàn toàn với cái thấy của trí tuệ Bát Nhã  “Sắc tức thị Không”. Thực tế thì không có sự thành tựu nào tồn tại độc lập, cũng không có cái đẹp nào độc lập, mà cũng chẳng có cái xấu nào độc lập. Không có “ta”, mà cũng chẳng có “người”, theo nghĩa tuyệt đối, nhưng "nhị nguyên" khiến cho con người không thể thấy được tầng sâu sắc này. 

Đồng thời, nhị nguyên cũng nuôi dưỡng bản ngã. Trong đời sống hằng ngày, cặp nhị nguyên lớn nhất chính là “Ta” và “Không phải ta”. Khi tâm đặt cái tôi “tự ngã” ở một phía, và thế giới còn lại ở phía bên kia, thì mọi phát sinh kiêu mạn, ganh ghét, sợ hãi, cố chấp ... theo đó hình thành. Mà chính những thứ đó là những chướng ngại lớn nhất của con đường giác ngộ.

Không chỉ vậy, nhị nguyên khiến "tâm" con người luôn phân biệt không ngừng. Khi tâm vận hành theo nhị nguyên, nó liên tục so sánh, đánh giá, dựng lập ý niệm, khái niệm... Vì thế, con người không thể an trú trong hiện tại và không thể thấy vạn pháp “như thị” (như nó đang là). Trong kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.” Nhị nguyên chính là cái “sở trụ” ấy. Khi tâm còn bám vào một cực, một quan điểm, một mô hình, hay một giáo điều nào đó, thì trí tuệ không thể sinh khởi. Câu chuyện về Ngài Huệ Năng gặp hai vị tăng tranh luận về lá cờ đang bay là minh họa rõ nhất. Một vị nói cờ động, vị kia nói gió động. Huệ Năng bảo: “Không phải gió động, không phải cờ động, mà là tâm các ông động.” Ngài chỉ ra rằng nhị nguyên không nằm trong sự vật, mà trong dao động của tâm.

Theo cách hiểu của mình, thì cái "thấy" và cái "biết" của những bậc giác ngộ vượt ra khỏi nhị nguyên. Họ không xóa bỏ nhị nguyên về mặt ngôn ngữ, mà chỉ không còn bị nhị nguyên trói buộc. Họ thấy đẹp mà không bị đẹp ràng buộc, thấy xấu mà không sinh ghét bỏ, nghe khen mà không kiêu ngạo, nghe chê mà không giận hờn, thấy “ta” mà không chấp ngã, thấy “người” mà vẫn khởi lòng từ bi. Đó là vô phân biệt trí, là nhất như, bất nhị (non-dual awareness).

Tóm lại, nhị nguyên chỉ là thói quen của tâm, không phải bản chất của vạn pháp. PG không phủ nhận nhị nguyên, nhưng xem nó như một phương tiện ngôn ngữ, không phải chân lý tối hậu. Thực tại vốn không hai, vì tất cả đều duyên khởi, vô ngã và vô thường. "Nhị nguyên" chỉ là cái bóng của ý niệm, và "Giác ngộ" là sự tan biến của cái bóng ấy !

Ngày nay, nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI), thiên kiến nhận thức (cognitive bias) là một trong những vấn đề trung tâm của triết học tâm thức và khoa học nhận thức hiện đại. Con người, do giới hạn của tri giác và sự hoạt động có tính mô hình hóa của tâm, thường vội vàng kết luận dựa trên những thông tin không đầy đủ, đặc biệt là các yếu tố hình tướng bên ngoài. Trong văn hóa Đông phương, hiện tượng này đã được phân tích sâu sắc trong hệ thống tư tưởng PG và Đạo gia, vốn xem sự bám chấp vào hình tướng (sắc tướng) là nguồn gốc của vô minh và phân biệt.

Nói thêm chút, theo PG, thế giới con người được cấu thành bởi Ngũ Uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, sắc uẩn là yếu tố vật chất, hiện tượng có thể quan sát. Tuy nhiên, sắc chỉ là lớp biểu hiện đầu tiên, không hàm chứa bản chất (svabhāva) của vạn vật. Kinh Kim Cang có ghi “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" (tạm dịch là: Hễ cái gì có hình tướng đều là hư vọng). Điều này hàm ý rằng việc dựa vào sắc để kết luận bản chất là một sai lầm nhận thức, bởi sắc chỉ biểu hiện tạm thời, chịu chi phối bởi vô thường và duyên khởi. Trong tâm lý học, điều này tương ứng với bias of appearance-based judgment, nơi con người phán đoán phẩm chất thực dựa trên dấu hiệu bề ngoài. Và dĩ nhiên nhiên chính sự thiên lệch này là nền tảng của hiện tượng “vơ đũa cả nắm,” khi cá nhân con người sử dụng một mẫu hình nhỏ nhoi để đại diện cho một tập thể rộng lớn. 

Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy rằng những gì mắt thấy chỉ là cảnh, tức biểu tượng được tâm tái tạo, không phải thực tánh của sự vật. Phân biệt giữa “cảnh” và “tướng” cho thấy mức độ can thiệp của nhận thức chủ quan. Điều này gần với mô hình “constructivism” của triết học hiện đại: nhận thức là sự kiến tạo, không phải sự phản ánh đơn giản. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, tư tưởng “Sắc bất dị Không” tiếp tục khẳng định rằng mọi biểu hiện đều không có tự tính cố định. Bám vào "sắc" để phán xét, là đồng nhất cái tạm thời với cái bản chất, một sai lầm logic căn bản. 

Tư tưởng Lão-Trang cũng có nhiều điểm tương đồng. Lão Tử dạy: “Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh”. Hình tướng và tên gọi chỉ là ký hiệu, không thể gói trọn bản chất. Trang Tử thì dùng các câu chuyện nghịch lý để phá vỡ nhị nguyên, cho thấy ta không thấy sự vật như nó là, mà chỉ thấy sự vật qua tâm mình. Điều này rất gần với khái niệm “projective bias” ngày nay .


Trở lại quan sát đời sống hiện tại, mỗi ngày chung quanh ta có vô số nạn nhân của cái nhìn thiên kiến và lối suy nghĩ vơ đũa cả nắm. Nhiều người chạy theo tin tức phiếm diện, fake news, những video nguỵ tạo, cắt xén, câu view, câu like, để đánh giá hoặc phân tích vấn đề. Con người dễ dàng dùng một dấu hiệu bề ngoài để phán xét bản chất, hoặc lấy một trải nghiệm nhỏ để khái quát thành quy luật. PG cảnh báo rằng không có pháp nào cố định để ta dựa vào mà suy rộng tuyệt đối. Lão-Trang cũng nhắc rằng các đối lập như đúng-sai, thiện-ác, đẹp-xấu đều chỉ là quy ước, không phải bản chất của đạo.

Bài học rút ra là muốn thấy đúng sự thật, con người phải vượt ra khỏi sắc tướng và những khuôn mẫu tâm lý vốn dễ dẫn đến thiên kiến. Chỉ khi ấy, ta mới nhận thức bằng trí tuệ thay vì thói quen phán xét. Nhận thức đúng, không chỉ là tri giác chính xác, mà còn là sự giải phóng bản thân ra khỏi những khuôn mẫu do tâm tự dựng lên. Nhiều vị cao tăng cho rằng để tu tập vượt ra khỏi sắc tướng cần phải thực hành chánh niệm và thiền định, thường xuyên quan sát tâm mình. 

Tất nhiên khi đã nói đến chuyện học hỏi tu tập thì còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nữa, tuỳ duyên mà tạo tác. Nên chuyện to tác thì chưa dám nói đến, nhưng theo thiển ý của mình, trong đời sống hàng ngày nếu thực hành được một vài việc đơn giản cũng là ngon lành rồi. Ví dụ như cố gắng tránh chuyện vơ đũa cả nắm; thông tin thì cố gắng tìm hiểu từ nhiều nguồn khác nhau để hạn chế lệch lạc, vì thực ra báo đài nào lại chẳng có lúc lệch lạc, chỉ là nhiều hay ít. Cũng không dễ dàng hoặc mù quáng tin theo người khác cho dù họ là tỉ phú, triệu phú, quan quyền, chùa to chức lớn, hay bằng này cấp nọ gì đó, mà nên thực chứng bằng kinh nghiệm của bản thân để tránh những thiệt hại không cần thiết và ảnh hưởng lâu dài đến cái "thấy biết" (tức là sự tỉnh thức giác ngộ) của bản thân. Chỉ mong là được như vậy !

Cho nên mình vẫn thường nói đùa rằng nếu “tu” hoài, đi chùa, làm phước, đọc kinh, tế lễ thường xuyên, mà vẫn còn phân biệt, vẫn còn bám chấp vào hình tướng bên ngoài, dựa vào "fake" news, ta địch, bên này bên kia, bằng này cấp nọ, hoặc danh xưng vô bổ để phán xét hay phân biệt, thì có lẽ vẫn còn… y nguyên :-) .

Lan man chút vậy thôi. Thân chúc tất cả anh chị em và bằng hữu một cuối tuần an vui, bình an giữa mùa lễ hội.

PN
12/2025


Thursday, November 27, 2025

Lễ Tạ ơn 2025 ...


Hôm nay là ngày Thanksgiving (Lễ Tạ ơn). Như một thông lệ, nhà nào cũng chuẩn bị con gà tây. Nướng, quay, đút lò, xông khói… đủ kiểu sáng tạo, dù ăn uống thật ra chẳng bao nhiêu. Cũng giống như ở VN, cứ chiều cuối năm là đủ loại bánh tét, bánh chưng, nhân chay, nhân mặn, chuối, đậu xanh, nước dừa, gà, heo, thịt mỡ dưa hành…Nói chung là ở xứ nào cũng vậy, điều quan trọng nhất vẫn là cái "hồn" của ngày lễ, nấu nướng rộn rịp là để gia đình, bạn bè có dịp quây quần bên nhau.

Còn nguồn gốc Thanksgiving thì ai cũng biết rồi. Bắt đầu từ bữa tiệc của người hành hương Pilgrims và thổ dân Wampanoag năm 1621, mừng mùa thu hoạch đầu tiên trên vùng đất mới. Dù lịch sử sau này giữa người châu Âu và người bản địa có nhiều xung đột, nhưng tinh thần cốt lõi của ngày lễ vẫn được giữ lại, đó là sự sẻ chia, lòng biết ơn, và sự tử tế giữa con người.

Ngày nay ở Mỹ, Thanksgiving là dịp đoàn tụ lớn nhất trong năm, nhiều gia đình còn coi trọng hơn cả Giáng sinh. Người ta vượt hàng nghìn cây số chỉ để kịp bữa tối truyền thống, gà tây nướng, khoai tây nghiền, gravy làm từ nước thịt gà tây, cranberry sauce (không biết dịch sang tiếng Việt sao), bánh bí ngô .v.v. Mấy đứa nhỏ sinh ra hoặc lớn lên tại đây thì quá quen thuộc mấy món ăn này, còn người Việt ở Mỹ nếu không quen mấy món Tây thì vẫn ăn lễ Tạ ơn, nhưng toàn món độc lạ quê nhà. Nào là tiết canh, cháo lòng, lẩu mắm, tôm hùm, bún bò, bún ốc, ốc vòi voi, thịt luộc chấm mắm nêm .... hay trứng cá caviar, sâm banh ... tùy theo ông nào làm "tổng thống" :-).

Nhưng cuối cùng thì Tây, Ta gì cũng thế, bữa ăn tối thứ Năm, tuần cuối cùng của tháng 11 hàng năm, trở thành biểu tượng của sự đoàn tụ và lòng biết ơn. 

Như thường lệ, năm nay mình cũng được "vinh dự" ngồi canh con gà Tây nướng, giống như hồi nhỏ ở VN đuợc ngồi canh nồi bánh tét bánh chưng. Ngồi canh là lúc nhàn nhã nhất, thả cho đầu óc đi lang thang, mở nhạc, đọc tin tức, nghĩ chuyện Đông Tây, trên trời dưới đất....

Nhưng năm nay cứ mở máy lên, lại thấy tin lũ lụt ở quê nhà, vườn tược tan hoang, người vật nổi trôi. Thực ra thì miền Trung xưa nay năm nào chẳng lũ, không lớn thì nhỏ, nhưng kể từ khi phong trào thủy điện "trăm hoa đua nở", thì lũ càng thêm lũ, hậu quả khó lường !

Nói một cách công bằng thì không phải chỉ có VN mới "trăm hoa đua nở" thuỷ điện, mà Lào và Trung quốc trong những thập niên gần đây, cũng vậy. Điểm chung là đều có tham vọng phát triển kinh tế từ nguồn năng lượng sạch tương đối rẻ. Điểm khác biệt là quy mô, địa hình, mức độ quản lý, và tác động xuyên biên giới. Trong đó VN chủ yếu xây dựng thủy điện trên các lưu vực nhỏ (sông miền Trung, Tây Bắc, Tây Nguyên). Lào thì định hướng trở thành “bình điện của Đông Nam Á”, xây hàng chục đập trên dòng chính và phụ lưu Mekong. Còn TQ thì sở hữu hệ thống thủy điện lớn nhất thế giới, đặc biệt là các siêu đập ở thượng nguồn sông Mekong và sông Dương Tử.

Và cũng chính vì những điểm khác biệt đó mà dẫn đến những hệ quả rủi ro khác nhau. Rủi ro chính thứ nhất của VN là nằm ở hạ du nhiều hệ thống sông ngòi, đặc biệt là Mekong, chịu rủi ro từ hệ quả thuỷ điện của cả Lào và TQ. Rủi ro thứ hai là VN phát triển nhiều công trình thủy điện nhỏ, thường chỉ phục vụ cho một số lợi ích riêng của vùng miền hoặc nhóm đầu tư, không đủ khả năng cắt lũ lớn do mưa bão bất thường. Vì vậy, họ sẽ không ưu tiên vấn đề thiệt hại rủi ro từ các tình huống bất ngờ, mà luôn đặt lợi ích lên trên. Rủi ro thứ ba là do địa hình dốc, hẹp, đặc biệt là miền Trung, lũ lên nhanh, dễ dẫn đến ngập sâu khi xả lũ. Rủi ro kế đến là quản lý vận hành bất cập, nhiều thủy điện nhỏ, phân tán, khó giám sát, hoặc phê duyệt không chặt chẽ, không chi tiết mọi tình huống. Rừng đầu nguồn bị tàn phá khi xây dựng hàng trăm hồ chứa nhỏ.

Những rủi ro đó thì người dân VN đã chứng kiến lặp đi lặp lại hàng năm, nhất là những lúc mưa bão bất thường. Lũ quét, sạt lở, ngập sâu, cả nhân tai lẫn thiên tai hòa vào nhau. Dù năm nào cũng có tranh luận, kiến nghị, phê phán sau mỗi trận lũ, nhưng giải pháp cụ thể dường như vẫn còn xa. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long thì lại có những khó khăn khác như mất phù sa do đập thượng nguồn (Lào & TQ) giữ lại. Khó điều tiết nước mùa khô, dễ ngập mặn, tôm cá tài nguyên sông nước cạn kiệt dần, và quan trọng hơn nữa là vựa lúa Nam bộ ngày càng thu hẹp. Nhìn chung, thì VN chịu tác động rủi ro lớn nhất, ngoài những rủi ro nội địa như lũ lụt miền Trung, còn có cả những rủi ro xuyên biên giới từ các nước láng giềng. Ví dụ như nếu Lào quản lý yếu và chất lượng công trình sai phạm, sẽ gây rủi ro lớn cho VN. Còn đối với công trình thuỷ điện TQ, thì có thể gây ra rủi ro lớn cho toàn lưu vực, đặc biệt đối với VN, thông qua việc kiểm soát thượng nguồn Mekong và các lưu vực ở đồng bằng Bắc Bộ. Bởi vậy, thủy điện không chỉ là vấn đề nội bộ của từng nước mà còn là bài toán an ninh nguồn nước và hợp tác khu vực. Hy vọng chính phủ VN sớm có những phương án thích hợp và kịp thời để chống chọi những rủi lo to lớn này .

Thực ra, nếu nhìn từ góc cạnh khác, thì ngoài yếu tố thiên nhiên, phần lớn các rủi ro đó đều xuất phát từ một nguyên nhân. Đó là con người "ở trên" quên rằng phía hạ du còn có người "kẻ dưới" khác đang sống !

Có những dòng sông chảy suốt nghìn năm mà chưa từng làm hại ai, cho đến ngày con người dựng lên những bức tường khổng lồ chắn ngang nó. Đập nước không có tội, tội chỉ xuất hiện khi bàn tay con người vận hành nó không còn nhớ rằng phía hạ du còn có những mái nhà, những kiếp người, và những giấc ngủ của trẻ thơ.

Xả lũ, nếu làm đúng, là sự hòa điệu giữa thiên nhiên và con người. Nhưng khi nó trở thành quyết định vội vã, thiếu cảnh báo, hay bị chi phối bởi lợi ích riêng, thì dòng nước ấy không còn là sự điều tiết nữa, mà nó biến thành một minh chứng tàn nhẫn rằng lòng tham có thể mạnh không kém gì lũ dữ.

Thực ra, trong mọi lĩnh vực của đời sống, "xả lũ" không chỉ là chuyện của thủy điện. Đó là khi một cá nhân vì lợi nhuận của mình mà đẩy rủi ro về phía người khác. Đó là khi một nhóm lợi ích để lợi nhuận che khuất đôi mắt, rồi biện minh rằng “mọi thứ đều theo quy trình,” dù họ biết quy trình ấy có thể nhấn chìm cả một vùng quê trong một đêm.

Cái bi kịch lớn nhất của xã hội không phải là thiên tai, mà là nhân tai, từ chiến tranh cho đến các vấn đề xã hội, nhất là khi người ta quên rằng mọi quyết định của mình đều có liên quan đến người khác. Một cú bấm nút có thể mở cửa xả lũ, nhưng cũng có thể mở cửa đau thương mà hàng trăm gia đình không bao giờ quên được. Con người chỉ thực sự trưởng thành khi biết nhìn xuống "hạ du" của lòng mình, nơi có những con người đang trông vào sự tử tế của họ để được an toàn. Không ai có thể sống một mình như một con đập giữa núi rừng, mà tất cả chúng ta đều liên kết trong dòng chảy chung của đời sống. Một quyết định ích kỷ có thể biến ta trở thành thượng nguồn của tai họa. Và đôi khi, chỉ cần một phút tỉnh thức, một chút lương tri, là đủ để tính toán thiệt hơn, đủ giữ nước lại, đủ để cứu lấy những sinh mạng mong manh. 

Tất nhiên là khi con người biết nghĩ cho nhau, nhớ rằng phía hạ du còn có sự sống, thì mọi dòng chảy, dù là dòng chảy của nước lũ, của quyền lực, hay của lợi ích .... cũng sẽ trở nên hiền hòa hơn !


Nhớ hồi còn nhỏ, sống với Ngoại dưới quê, cứ đến tháng Chín, tháng Mười là y như rằng lại có lụt. Câu ca dao “Bao giờ cho đến tháng Mười ? Lúa chín rụng xuống, nước trôi đầy đồng” dường như theo chân người xưa, để rồi trở thành nỗi ám ảnh rất thật của người nông dân quê mình. Những ngày nước “trôi đầy đồng”, Ngoại thường nói: “Hà bá lên lấy gỗ.” Nghe vậy, lũ nhỏ tụi mình lại háo hức đợi "Hà bá lấy gỗ" xong, để còn lội nước, coi vớt củi lụt, cất rớ, thả lờ, bắt dế… Trẻ thơ thì vui, chứ nào hay gì đến nỗi lo của người lớn. Mà ngày đó, dù lụt về hàng năm, mình cũng chưa bao giờ nghe chuyện người chết hàng trăm như bây giờ.

Những hình ảnh tang thương nhất đối với mình khi ấy chỉ bước ra từ văn chương, như từ "Anh phải sống" của Khái Hưng, hoặc từ "Đôi mắt người Sơn Tây" của Quang Dũng:

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé nhỏ
Bao năm rồi xác trẻ trôi sông…

Hoặc là từ nỗi niềm lãng đãng của Nguyễn Bính:

Nước lớn thuyền lên, con nước nổi,
Đời em trôi dạt tới bao giờ ?

Ngày còn nhỏ, mình chỉ cảm thấy những câu thơ ấy như một nỗi buồn. Không ngờ giờ đây, khi thiên tai nhân tai trở nên tàn nhẫn hơn, những câu thơ cũ lại hóa thành những bi kịch rất thật.

Thế nhưng giữa những nỗi đau “màn trời chiếu đất” của đồng bào VN, vẫn có một điều khiến ta ấm lòng, đó là tình người. Là những tấm lòng vàng từ khắp nơi, gom góp từng bao gạo, từng chiếc áo, từng đồng bạc lẻ để gửi về miền lũ. Chính những nghĩa cử ấy là niềm an ủi lớn nhất cho những người đang oằn mình trong thiên tai.

Hôm nay, ngày Thanksgiving, lại thấy mình có thêm lý do để biết ơn. Biết ơn vì những may mắn cuộc sống dành cho bản thân và gia đình. Biết ơn vì trong hoạn nạn, con người vẫn còn tìm đến nhau bằng tình thương. Biết ơn vì giữa biến động, lòng nhân ái vẫn là ngọn đèn không tắt.

Xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến các nạn nhân vùng lũ. Xin trân trọng cúi đầu trước những tấm lòng đã sẻ chia lúc gian nan. Chúc tất cả một ngày lễ Tạ ơn an lành và một mùa lễ hội tràn đầy may mắn.

PN


Saturday, November 22, 2025

Tản mạn: Nỗi lo mùa lễ hội ....

 


Hằng năm, khi tháng 11 khép lại, những con đường trên khắp nước Mỹ lại khoác lên mình ánh đèn ấm áp. Hàng xóm bắt đầu trang hoàng sân vườn rực rỡ để chuẩn bị cho mùa lễ hội. Lễ Tạ Ơn, rồi Giáng Sinh đến như một lời nhắc nhở dịu dàng rằng sau một năm dài nhiều biến động, con người vẫn có thể ngồi lại bên nhau, ăn chung một bữa “gà tây”, chia sẻ nhau những vui buồn và lòng biết ơn cùng sự tha thứ.

Trong nhiều nền văn hoá, Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh tượng trưng cho khoan dung và đoàn tụ. Thế nhưng, trong không ít năm gần đây, những ngày lẽ ra phải thanh bình ấy lại thường bị phủ bóng bởi nỗi lo âu. Tin tức chiến tranh, bạo lực, khủng bố, hay những vụ tấn công vô nghĩa vào dịp lễ đông người… tất cả như những vệt mực vô tình rơi xuống trang giấy vốn được viết bằng hy vọng. Người ta sợ nơi đông người, sợ bước ra đường, sợ rằng ngay cả ngày thiêng liêng nhất cũng không tránh khỏi sự tàn nhẫn của con người.

Ở Mỹ năm nay, từ nhiều tháng trước, các cuộc truy bắt người di dân bất hợp pháp diễn ra khắp nơi. Như bất kỳ hoạt động quy mô lớn nào, không tránh khỏi có những sai sót, bắt lầm người, hoặc hành vi bạo lực. Điều ấy làm dấy lên tâm lý bất ổn và hoang mang, không chỉ trong cộng đồng di dân bất hợp pháp, mà cả những người có tư cách pháp lý đầy đủ. Nhiều đứa trẻ thuộc các gia đình gốc Nam Mỹ đi học với ánh mắt lo âu đáng thương. Ở tiểu bang nơi mình đang sống, các thành phố lớn, mấy hôm nay nhiều người nhập cư hợp pháp thế hệ đầu tiên cũng ngại đi làm, ngại đưa con đến trường. Sự bất an vốn thường trực trong đời sống nay lại bị khuếch đại vào đúng thời điểm lẽ ra là mùa bình yên. Những hiện tượng này thật sự hiếm hoi, xưa nay chưa từng thấy ở nước Mỹ.

Câu hỏi đặt ra là liệu những hành động như vậy có tạo ra giá trị thật sự hay không, khi được triển khai đúng vào mùa lễ, thời điểm con người cần sự yên ổn, đoàn viên, cõi lòng rộng mở?

Mục đích lớn nhất của một quốc gia là gì? Tạo dựng môi trường an bình để người dân yên tâm làm ăn, dân giàu nước mạnh? Hay tạo ra nỗi bất an tập thể?

Dĩ nhiên, bàn đến những vấn đề này sẽ khó tránh tranh cãi, đụng chạm quan điểm, đảng phái. Nhưng mình thì không có hứng thú phân định thắng thua, chỉ muốn chiêm nghiệm một vài điều nho nhỏ trong đời sống hiện tại, cũng như từ lịch sử loài người.

Xưa nay, bạo lực, khủng bố hay những hành vi phi nhân đạo trong dịp lễ hội đều có chung một gốc rễ, đó là những trái tim bị che khuất bởi giận dữ và thành kiến. Chúng không thể bị đánh bại bằng sự căm ghét, mà chỉ bằng một sức mạnh bền bỉ hơn, là khả năng tha thứ và nhìn thấy nhau như những đồng loại cùng mong cầu hạnh phúc, những con người cùng khát vọng tự do.

Khi một con người biết tha thứ, họ không làm nhỏ đi nỗi đau của mình, mà họ mở lòng để hiểu nỗi đau của người khác. Khi một cộng đồng còn giữ được lòng trắc ẩn, chiến tranh và sợ hãi trở nên lạc lõng. Và khi nhân loại vẫn có thể ngồi lại bên bàn ăn, chia nhau một miếng bánh mì hay một lời chúc bình an, thì dù ngoài kia thế giới rung chuyển đến đâu, ý nghĩa thật sự của mùa lễ vẫn không mất đi.

Trong tư tưởng Kitô giáo, tha thứ mang tính cứu rỗi, con người có lỗi lầm nhưng có thể tái sinh qua tình thương. Trong PG Đại thừa, tha thứ là hệ quả của trí tuệ thấy rằng mọi hành vi đều bị điều kiện hoá bởi vô minh và nghiệp lực. Do vậy, bản chất của oán hận thực ra không có một nền tảng bền vững.

Bởi thế, khi bạo lực xảy ra đúng vào dịp lễ, thời khắc được mặc định cho bình an, thì đó là dấu hiệu của sự đứt gãy trong năng lực tha thứ của xã hội. Bạo lực trong ngày lễ không chỉ là biến cố chính trị, mà còn là dấu hiệu cho thấy xã hội đang đánh mất khả năng “sản sinh tình người”. Ngược lại, tha thứ là một phương cách chữa lành cộng đồng. Nếu bạo lực phá vỡ trật tự, thì tha thứ chính là hành vi tái lập trật tự một cách có ý thức. Trong bối cảnh các ngày lễ, điều này lại càng đúng. Sự tha thứ làm hồi sinh ý nghĩa nhân bản của mùa đoàn tụ, khẳng định rằng người với người vẫn là nơi trú ẩn cuối cùng.

Có một nghịch lý thật trớ trêu, là nước Mỹ được dựng nên bởi những thế hệ di dân nối tiếp nhau, vậy mà trong thực tế, không ít người “đến trước” lại phân biệt những người “đến sau”. Khi đã hội nhập, đã đứng vững trong đời sống mới, nhiều người dường như quên mất cha ông mình cũng từng bước xuống tàu, đi qua đại dương với cùng một nỗi sợ hãi, mong cầu và bất định như những người di dân hôm nay.

Trong những giờ phút đối diện với sống chết, bất kỳ chiếc phao nào cũng trở nên quý giá. Khi cuộc sống lênh đênh, điều duy nhất mà con người mong mỏi là một nơi trú ẩn an toàn, một vùng đất có thể mở ra cơ hội mới. Lúc ấy, không ai phân biệt người cứu mình, hay ông tổng thống nhận mình là thuộc đảng nào, tin vào điều gì, hay đến từ đâu. Nhưng khi đã đứng được trên mảnh đất an toàn ấy, khi đời sống bớt chòng chành, người ta lại dễ dàng chia rẽ nhau theo nhãn mác, người này "thuộc DC”, người kia “thân CH”..v.v.. như thể sự an toàn tự thân cho phép họ quay lưng với những ai đang sống lại chính câu chuyện của cha ông họ ngày xưa, hoặc thậm chí là những trải nghiệm của chính bản thân họ.

Tâm trạng của nhiều di dân hôm nay, sự lo lắng, bất trắc, nỗi sợ bị xua đuổi, thực chất cũng là tâm trạng từng in hằn trên khuôn mặt của bao thế hệ công dân đang chỉ trích họ. Những cảm xúc ấy không phải mới, chúng chỉ là vòng tròn lẩn quẩn của lịch sử con người.

Triết gia Levinas nói rằng “Thông cảm là nhìn thấy ở người kia khuôn mặt của con người”. Tức là nhận ra nhân vị phía sau những khái niệm, định kiến, hay ranh giới do lịch sử tạo ra. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều. Con người có xu hướng quên rất nhanh, quên mình đã từng yếu đuối, từng mong cầu, từng được cứu, từng là “kẻ mới đến”.

Và vì thế, lịch sử sẽ cứ tiếp tục là chuỗi những câu chuyện… về sự "hay quên". Không phải quên thành tựu, mà là quên chính nguồn cội của lòng nhân ái, của tình người, điều duy nhất có thể nối kết những thế hệ di dân trong hành trình không ngừng tìm kiếm một nơi để được sống như con người.

Không phải ngẫu nhiên mà tinh thần Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh luôn gắn liền với hình ảnh tha thứ. Đó là thời điểm con người dễ nhận thức về sự mong manh của kiếp sống, là khoảnh khắc họ tạm dừng cuộc đua thường ngày, để nhìn lại chính mình. Giữa ánh đèn và những bữa ăn ấm cúng, tha thứ trở thành một hiện diện cần thiết, không phải chỉ là bỏ qua lỗi lầm, mà là chọn lựa đứng về phía ánh sáng trong một thế giới vô cảm, đầy bất trắc.

Do đó, những hành động truy đuổi, săn bắt khiến cộng đồng bất an trong mùa lễ lộc, dù có lý lẽ riêng, nhưng vẫn khó tránh cảm giác rằng đó là điều không nên làm, bởi chúng gây xáo trộn, gieo rắc nỗi sợ hãi, mà không mang lại sự chuyển hoá bền vững.

Giữa tiếng chuông lễ hội, tha thứ nhắc chúng ta rằng con người không bị quyết định bởi bản năng gây hấn cho người khác, mà bởi khả năng chọn con đường đúng đắn cho bản thân, dù con đường ấy đòi hỏi phải có dũng khí hơn, hoặc gian nan hơn. Một xã hội biết tha thứ không phải là xã hội quên đi tội ác, mà là xã hội không để tội ác quyết định tương lai của mình. (Viết tới đây, mới nhớ đến mấy ngày nay đọc tin tức xả lũ kinh hoàng ở VN. Nhưng có lẽ đợi dịp khác viết về vấn đề này !)

Trên thực tế trong mọi cuộc xung đột, bạo lực luôn xuất hiện trước tiên với âm thanh ầm ỹ, và vẻ mạnh mẽ đầy hăm doạ. Nó khiến người ta tưởng rằng quyền lực nằm ở nòng súng và sự khuất phục của kẻ khác. Nhưng khi tiếng ồn tan đi, khi khói bụi lắng xuống, thứ còn lại không bao giờ là sự thống trị, mà chỉ là những vết thương. Bạo lực chỉ tạo ra im lặng tức thời và sự chịu đựng, nhưng không thể tạo ra tương lai.

Ngược lại, tình người, tưởng như yếu mềm, lại bền bỉ hơn mọi thứ vũ khí. Một cử chỉ bao dung, một lời tha thứ, hay một bàn tay chìa ra giữa đổ nát có thể vực dậy cả một cộng đồng, hàn gắn những gì đạn bom không thể chạm tới. Lịch sử thuộc về những ai giữ được lòng nhân khi nhiều người khác đánh mất nó. Và chiến thắng cuối cùng, khi mọi tranh giành đã phai mờ, luôn thuộc về những ai dám yêu thương trong thời điểm dễ căm ghét nhất.

Nhớ đến thời vua Quang Trung, mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), sau trận Ngọc Hồi – Đống Đa, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Trong lịch sử, đây thường là lúc đạo quân chiến thắng dễ rơi vào nạn kiêu binh, trả thù, hoặc cướp bóc. Nhưng vua Quang Trung đã ra lệnh không được cướp bóc của dân, không được trả thù phe Trịnh Lê, không được đụng đến phụ nữ và trẻ em, và tuyên bố nghiêm trị bất cứ ai vi phạm. Bên cạnh đó, mới lên ngôi, lẽ ra có thể thanh trừng, nhưng ông lại mời các sĩ phu Bắc Hà ra hợp tác, như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực. Hành động này mang tính hoà giải dân tộc hiếm thấy, đối xử nhân đạo cả với dân của “bên thua cuộc”. Vua Trần Nhân tông cũng vậy, khoan dung độ lượng, tha cho tướng giặc Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Khi quân Nguyên bị đánh bại, nhiều đại tướng bị bắt sống. Thay vì giết để trả thù tàn khốc (vì quân Nguyên từng nhiều lần tàn sát dân Việt), vua Trần Nhân Tông đã xử lý theo hướng nhân đạo - không tra tấn, không giết hại gia đình họ, đối xử đúng lễ nghi với tù binh. Ông Ngô Thì Sĩ (cha ông Ngô Thời Nhiệm) sau này gọi đó là "đại lượng của bậc thánh quân", thắng bằng võ lực nhưng kết thúc bằng đức độ.

Còn chuyện bên Tây thì cũng không hiếm, như Alexander Đại đế sau khi đánh bại vua Ba Tư Darius III, bắt được mẹ, vợ và con của kẻ thù. Thay vì bắt làm nô lệ hoặc hành hạ (tập quán phổ biến thời đó), ông bảo vệ danh dự và an toàn cho họ, đối đãi như người hoàng tộc, và không chiếm đoạt bất cứ phụ nữ nào. Mẫu hậu của vua Darius đã khóc và quỳ lạy Alexander, gọi ông là “vị vua thật sự của nhân loại”. Đây là câu chuyện thường được trích dẫn trong các tác phẩm chính trị quân sự phương Tây như một ví dụ về “tinh thần hiệp sĩ cổ đại”. 

  


Gần đây hơn, thì nước Mỹ có tổng thống  Abraham Lincoln và tinh thần “malice toward none, charity for all” (tạm dịch: Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả). Thời nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ, ngay trước khi chiến tranh kết thúc, Lincoln tuyên bố: “Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả".Ông chủ trương: Không trả thù miền Nam, mà tái thiết đất nước bằng khoan dung. Không xử tử hàng loạt tướng lãnh miền Nam, không tịch thu đất đai, và không truy quét tận diệt các gia đình miền Nam. Cho nên dù ông bị ám sát, chính sách của ông trở thành biểu tượng của hòa giải lịch sử. Và ông được đánh giá là vị tổng thống xuất sắc nhất của nước Mỹ. Lịch sử cả Đông lẫn Tây đều chứng minh rằng đức độ làm nên hoà bình bền vững hơn bất kỳ cuộc chinh phục nào.

Dĩ nhiên, ở đâu có ánh sáng, ở đó cũng có bóng tối. Lịch sử cũng ghi lại không ít những cuộc tấn công vào dịp lễ, từ Pearl Harbor ngay sau tuần Lễ Tạ Ơn (1941), đến trận Ardennes cuối năm 1944, khi quân Đức hy vọng xoay chuyển cục diện trước Giáng Sinh. Thậm chí câu trả lời “NUTS!” của tướng McAuliffe ở Bastogne còn trở thành giai thoại quân sự thú vị. Thế giới luôn là sự đan xen giữa thiện và ác, lòng nhân và bạo lực.

Thôi xin tạm dừng tại đây, chỉ mạn phép lan man đôi điều về tâm trạng bất ổn của cộng đồng di trú, những người phải rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của họ vì những lý do khác nhau. Cầu mong mọi điều tốt đẹp nhất đến với mọi người. Hy vọng rằng dù thời cuộc ra sao, tình người vẫn còn chỗ để nương náu !

Thân chúc mọi người một tuần Lễ Tạ Ơn an lành. 

PN
(11/2025)



Tuesday, November 11, 2025

Tản mạn - Ngày cựu chiến binh (Veterans Day)

 


Hôm nay là ngày lễ Cựu Chiến binh ở Mỹ. Trường học và nhiều cơ quan chính phủ, ngân hàng... đóng cửa. Mấy hãng tư nhân thì tuỳ, có chỗ nghỉ chỗ không, không bắt buộc. Lúc trước trong công ty, cùng dept, có mấy ông đồng nghiệp là cựu chiến binh, đến mấy ngày này mình nói mấy ông cứ ở nhà dẫn vợ dẫn con đi chơi :-). 

Tối qua, tiểu bang mình đang ở và nhiều nơi trên nước Mỹ, nhiệt độ rớt xuống bất ngờ. Sáng nay ngoài trời còn lạnh lẽo, con cái được nghỉ lễ ở nhà. Ngồi nhâm nhi cafe, tự nhiên mình suy nghĩ lan man về những người lính, những anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ vô danh, những người cựu chiến binh, thương binh, đã thiệt thòi rất nhiều vì bảo vệ quê hương đất nước.

Nói đến cựu chiến binh là nói đến môt đề tài rất rộng, liên quan đến nhiều lãnh vực khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau. Từ người sống đến người chết, từ người thương binh đến người cựu binh, từ những anh hùng liệt sĩ bên này cho đến những tử sĩ vị quốc vong thân bên kia. Từ bên "thắng cuộc" cho đến bên "thua cuộc", từ những chiến tuyến khác nhau đối đầu không chọn lựa, cho đến những hoà giải vị tha, hoặc hận thù gieo rắc, sau khi cuộc chiến kết thúc. Xưa nay trên thế giới, đã có biết bao nhiêu tác phẩm văn học nghệ thuật nói về những đề tài này, từ những danh tác trong văn học nghệ thuật chính thống, cho đến những câu chuyện biến tướng, hư cấu, thiêu dệt, tuyên truyền... Không ai đếm hết được !

Người Mỹ thì định nghĩa cựu chiến binh đơn giản, là những người từng ở trong quân ngũ và giải ngũ trong danh dự (discharged under honorable conditions - nôm na là không phải thành phần "bị khai trừ" hoặc "đào ngũ"), chứ họ không phân biệt là binh sĩ bên chiến tuyến nào, mặc dù họ cũng từng có một cuộc chiến tranh Nam Bắc, huynh đệ tương tàn. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng quan niệm rằng, cựu chiến binh nào chiến đấu vì quốc gia dân tộc, đều xứng đáng được tri ân. 

Nhìn lại, lịch sử nhân loại chưa bao giờ bước đi trên một con đường phẳng lặng. Trong những trang sử đầy biến động ấy, dấu chân của người lính luôn in đậm nơi tuyến đầu, nơi quyết định sự tồn vong của một dân tộc. Nhưng khi chiến tranh khép lại, điều còn lại không chỉ là thắng thua, mà là những mất mát chung, những thân phận con người bị cuốn vào thời cuộc, và những trái tim tuổi trẻ đã không thể sống trọn cuộc đời bình thường.

Vì vậy, tri ân người cựu chiến binh không nên bắt đầu từ câu hỏi họ đứng ở chiến tuyến nào, mà phải bắt đầu từ sự thật lớn hơn, đó là họ đã đứng lên trong chiến tranh vì đất nước và dân tộc mình, chấp nhận hy sinh tuổi trẻ, máu xương, và cả tương lai. Người lính là biểu tượng của nghĩa vụ, không phải sản phẩm của hận thù.

Người lính ra trận phần lớn không phải bằng lựa chọn cá nhân, mà bằng trách nhiệm của thế hệ họ đối với đất nước. Có người chiến đấu vì lý tưởng, có người vì lời kêu gọi của quốc gia, có người vì muốn bảo vệ gia đình, đất nước khỏi cơn hỗn loạn. Nhưng không ai ra trận để yêu chiến tranh. Khi lịch sử buộc một dân tộc phải chia đôi chiến tuyến, thì bi kịch nằm ở chỗ dù ai thắng, đều có mẹ mất con, vợ mất chồng, và đất nước đổ máu tang thương.

Bởi vậy, khi ngày hòa bình đến, điều cần nhất không phải là tiếp tục phân định ranh giới cũ, mà là trả lại cho người lính vị trí đúng đắn của họ, những con người đã trả giá bằng đời mình cho một thời đại lịch sử mà họ không thể tự chọn.

Yêu nước có nhiều hình thức, nhưng lòng dũng cảm chỉ có một. Một dân tộc trưởng thành không tri ân người lính chỉ qua màu lá cờ họ từng cầm, mà qua lòng can đảm khi họ đối diện cái chết trong thời loạn lạc. Khi bom rơi đạn nổ, ranh giới hệ tư tưởng không nằm trên chiến hào, mà nó nằm ở phía sau. Trên tiền tuyến chỉ có những trái tim đập trong nỗi sợ, những bàn tay níu đồng đội kéo ra khỏi hiểm nguy, những lá thư viết vội gửi về nhà trước một trận đánh, và những ước mơ bình thường không kịp thành hình... Đó là ngôn ngữ chung của người lính, vượt lên trên mọi phe phái chính trị.

Tri ân người lính là chữa lành ký ức chung của một dân tôc. Một đất nước muốn tiến về phía trước không thể bước đi với một nửa trái tim. Nếu lịch sử là bài học, thì hòa giải mới là con đường. Theo mình, tri ân tất cả cựu chiến binh không phải là phủ nhận sự khác biệt, mà là sự xác lập một nền tảng. Hay nói chính xác hơn là định hình một bước đầu cần thiết để hồi sinh một dân tộc cho dù bất kỳ chọn lựa thể chế chính trị nào !

Không có người lính nào bước ra khỏi chiến tranh mà không mang thương tích, dù trên thân thể hay trong tâm hồn. Trao cho họ lòng biết ơn là trả lại phẩm giá cho những con người đã bị chiến tranh cướp mất tuổi xuân. Một ngày lễ, một đài tưởng niệm, một huy chương, một lời cảm ơn ... những điều ấy không xóa được đau thương, nhưng chúng khẳng định rằng: "Dân tộc ghi nhớ họ, không phải vì họ thắng hay thua, mà vì họ đã sống và chiến đấu như những người con của đất nước".

Thiết nghĩ, tri ân những người cựu chiến binh, anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong, không phải chỉ là tôn trọng quá khứ, mà còn là thước đo cho sự văn minh của hiện tại. Một dân tộc biết cuối đầu trước những hy sinh từ cả hai phía là một dân tộc đủ trưởng thành để bước qua hận thù và đủ mạnh mẽ để viết tiếp tương lai.

Hòa bình không đến từ việc luôn đúng, mà đến từ khả năng trân trọng những con người đã ngã xuống vì quê hương, bất kể họ từng đứng nơi đâu trong bão lửa. Bởi điều lớn nhất mà tất cả họ từng chiến đấu để bảo vệ, xét đến cùng, không phải là một phe phái hay thể chế, mà là, đất mẹ, gia đình, và quyền được sống yên bình của các thế hệ mai sau. 

Chinh chiến bao giờ cho hết,
Anh hùng mấy kẻ trở về ?
(Chinh Phụ Ngâm)
...
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỳ nhân hồi.
(Vương Hàn)


Tiện thể xin lạm bàn chút về khái niệm "chiến tuyến". Ví dụ như ở VN, có nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình từ vĩ tuyến 17 trở vô, trong cùng một mái nhà có khi gặp phải bi kịch 2,3 chiến tuyến đối nghịch nhau. Một hoàn cảnh xã hội nghiệt ngã mà không thể chối từ. Bên nội "quốc gia", bên ngoại "cọng sản", anh tập kết ra Bắc, em trong Nam đi lính "cọng hoà"... Nhiều trường hợp cha mẹ, vợ chồng, anh em, bạn bè, bà con giòng họ, lại là hai chiến tuyến khác nhau. Vì vậy hơn ai hết, người VN hiểu rõ cái bi kịch của sự chia rẽ hận thù, và giá trị của sự hoà giải từ chính kinh nghiệm bản thân và gia đình của họ. 

Tuy nhiên vì đặc tính dân tộc, cũng như hoàn cảnh sống và tầm nhìn của các quốc gia trên thế giới có phần khác biệt, dẫn đến những lối đi riêng và cách hành xử khác nhau. Nhớ có năm nào, cách đây không lâu lắm, mình theo mấy ông anh đồng hương về quê, họp trường cũ. Sáng uống cafe, được nghe anh hiệu trưởng ngồi kể lại câu chuyện thực của chính cuộc đời anh. Anh từng là lính "giải phóng" bị thương sắp chết ở chiến trường miền Nam, được một người lính "cọng hoà" cứu sống. Sau năm 1975, anh kể hành trình gian nan đi tìm kẻ bên kia chiến tuyến, đã từng cứu sống anh để nói lời tri ân. Một người lính bên "thắng cuộc" quyết tìm cho ra người ân nhân bên "thua cuộc", không phải chỉ để cảm ơn, mà còn để thoả mãn những giá trị tối thiểu trong tận cùng lương tri của một con người. Câu chuyện rất cảm động, và hình như cũng có tờ báo nào đó đã đăng lại câu chuyện này. Thực ra những câu chuyện nhân văn như thế không phải là quá hiếm hoi trên thế giới, nhưng vào thời điểm đó quả là ít khi nghe được tại VN. 

Nói đến những câu chuyện có thực trong thời hậu chiến thì rất nhiều. Như cuộc chiến tranh Nam Bắc (Civil War) của Mỹ, lúc đánh nhau thì cũng khốc liệt. Nhưng khi cuộc chiến kết thúc, họ lại hoà giải trong hoà bình, êm thắm. Không trả thù, không phân biệt đối xử, ai cũng được an yên về với gia đình, chung tay xây dựng đất nước. Tương tự, trên thế giới có rất nhiều câu chuyện nhân văn rất đáng ngưỡng mộ sau khi chiến tranh kết thúc. Xin nhắc lại một vài mẫu chuyện ngắn mà mình còn nhớ ....

Năm 1944, trong trận Normandy (Pháp), binh sĩ Heinrich Severloh (Đức) đã đứng trên boong-ke bắn ra bờ biển Omaha, nơi quân Mỹ ập vào. Nạn nhân của ông hôm đó là Harold Baumgarten, một lính Mỹ bị thương nhưng sống sót. Hai mươi năm sau, Harold đọc được hồi ký của chính người lính Đức từng bắn về phía mình. Ông không nuôi hận thù, mà viết thư cho Heinrich. Họ gặp nhau ở Đức, không phải để kể về ai đúng ai sai, mà để kể mình đã sợ hãi ra sao trong trận chiến năm đó. Harold nói: "Tôi không bắt tay ông vì những gì ông đã làm, mà vì chúng ta cùng sống sót để trở về làm con người một lần nữa". Rồi hai người trở thành bạn, cùng đi diễn thuyết về hòa bình cho tới cuối đời.

Một câu chuyện khác, cũng trong thế chiến II, ông Takashi Nagase, sĩ quan phiên dịch trong quân đội Nhật, từng chứng kiến cảnh tù binh Anh bị đối xử tàn khốc khi xây đường sắt Miến Điện. Sau chiến tranh, ông day dứt suốt đời và quyết định trở lại Singapore để xin lỗi trực tiếp những cựu binh Anh còn sống. Ông quỳ gối xuống trước những người từng là kẻ thù và nói:

- Tôi không xin tha thứ cho quá khứ của nước Nhật, tôi chỉ xin tha thứ cho phần người trong tôi từng im lặng trước nỗi đau của các ông.

Cựu binh Anh Eric Lomax, từng bị tra tấn trong trại tù, đã lặng người, rồi nắm tay ông:

- Không ai được chữa lành đưọc vết thương khi ta chỉ nhớ đến vết thương mà quên con người.

Câu chuyện của họ sau này được dựng thành phim The Railway Man.

Còn thời chiến tranh VN, thì chắc cũng có nhiều câu chuyện tương tự như câu chuyện của anh hiệu trưởng TQT, chỉ là mình chưa được biết thôi. Nhớ có lần đọc về cựu chiến binh Mỹ Larry Berman, ông kể lại trong một trận hành quân ở Lào, đơn vị ông chạm trán một người lính cọng sản Bắc Việt bị lạc. Cả hai đều kiệt sức, đều run vì đói, nhưng không ai bóp cò. Thay vì nổ súng, người lính Bắc Việt ấy lấy bi đông cuối cùng ra đưa một nửa. Larry do dự rồi cũng chia nửa phần lương khô cuối cùng của mình. Không nói chung ngôn ngữ, họ chỉ gật đầu, rồi ai đi đường nấy.

Năm 1996, Larry quay lại Việt Nam làm công tác hòa giải và tìm đồng đội của cả hai phía. Ông đã nói trong một hội thảo:

- Không phải hòa bình khiến chúng tôi xem nhau là người, mà chính khoảnh khắc xem nhau là người đã giúp chiến tranh dừng lại trong lòng chúng tôi !

Một câu nói rất tuyệt và đúng sự thật. Cũng có lần một người bạn Mỹ của mình giúp một đạo diễn VN dịch một phim ngắn bối cảnh ở Mỹ Lai, nơi từng xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai. Một tác phẩm rất nhân văn, rất tình người. Ông bạn hỏi mình đã từng đến nơi đó chưa ? Tất nhiên, mình đã từng đi qua nơi đó hàng chục lần, từng viếng nhà chứng tích Mỹ Lai khi mới khánh thành. Nhưng để có được một tâm trạng như tâm trạng sau khi coi đoạn phim hôm ấy, thì quả thật là lần đầu ! 

Nói đến quê mình, thì có rất nhiều bà mẹ đã từng thắp nhang cho lính hai phía. Trong nhà, trên bàn thờ, đặt hai bát nhang, hai tấm ảnh, nhưng chỉ một mâm cơm. Bởi họ không thờ chiến tuyến, mà thờ những đứa con không bao giờ về nữa ! 

Tương tự, trong những ngày lễ "Chiến sĩ trận vong", người đặt vòng hoa trên mộ của các chiến sĩ vô danh, thường ghi lại: "To all soldiers who never made it home from both sides. (Tạm dịch: Gửi mọi người lính không bao giờ trở về nhà, từ hai chiến tuyến.) 

Một thông điệp rất nhân văn, đầy lòng vị tha, và thể hiện tâm hồn cao thượng của người lính thực thụ. Quả đúng là không có lòng dũng cảm nào đáng bị lãng quên, không có vết thương nào được chữa lành bằng hận thù. Hoà giải không có nghĩa là xoá đi ký ức, mà xoa dịu cho ký ức bớt đau. Nhiều người cho rằng "Tri ân một người lính, không phải là chọn bên, mà là chọn con người". Mình đồng ý với quan điểm đó. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia từng chia cắt và hận thù, để có một cái nhìn nhân bản sâu sắc, chắc chắc không phải là điều dễ dàng, mặc dù họ hiểu rất rõ là chỉ có sự hoà giải đúng nghĩa, mới thực sự đem lại sự phồn thịnh lâu dài cho đất nước & dân tộc của họ !



Thôi xin tạm dừng nơi đây. Chúc tất cả một ngày an vui.

Happy Veterans Day!

PN