Thế là cơn bão lịch sử đã đi qua. Nắng lên, nhưng ngoài trời vẫn còn lạnh. Nhìn qua khung cửa, thấy mấy cây camellia (hoa trà, trà hoa nữ, trà mi...) mới bị phủ đầy băng tuyết vài hôm trước, nay đã tươi tỉnh trở lại. Tự nhiên thoáng chút lo lắng không biết có kịp nở hoa vào dịp Tết không ? Rồi phì cười khi nhận ra mình thường hay lo những chuyện chưa tới, nuối tiếc những chuyện đã qua. Mà con người vốn vậy, chứ thật ra chuyện đã qua thì không thay đổi được, còn chuyện sắp tới thì cứ đến lúc đủ điều kiện, đủ nắng, đủ ấm, hoa nở thôi. Tự nhiên là thế !
Ngồi đọc email của một ông anh chuyển cho mình, bài có tựa đề "Hiểu đúng về Đạo Phật", liền nghĩ ngay vậy là còn có những cái "Hiểu sai" tồn tại đâu đó ngoài kia. Lướt qua vài bài viết trên mạng, theo dõi hành trình các nhà sư đi bộ, đã đến Virginia, thấy có người nhắc đến quý sư thuộc về PG Nguyên thuỷ (Nam Tông), nghĩ ngay đến chuyện thiên hạ vẫn còn phân biệt tông phái Nam Tông, Bắc Tông, Thiền tông, Tịnh độ Tông .... Nghĩ vậy, rồi tự cười với cái tư duy "nhị nguyên" của mình, nó vốn vận hành như thế, dù mình đã "cảnh giác" lắm rồi. Kiểu này mà mong được nhìn thấy sự vật như nó "đang là" (như thị) thì chắc là còn lâu lắm đây.. :-) .
Cuối tuần qua, lúc cơn bão đang kéo đến, rảnh rỗi ngồi tản mạn chút, mình có nhắc đến chuyện "giáo dục". Qua giờ, nhận được vài email phản hồi rất thú vị. Hôm nay, mình cũng muốn chia sẻ thêm vài ý nghĩ nữa về những đề tài có phần “gai góc” hơn một chút. Chắc chắn không phải ai cũng quan tâm và đồng ý với những quan điểm của mình. Tuy nhiên, mình cũng muốn nhắc lại như đã từng nói trước đây, mình không phải là tu sĩ, càng không phải là người thuộc lòng kinh điển, rành rẽ giáo lý, của bất kỳ một tôn giáo hoặc tông phái nào. Chỉ là may mắn đọc được một số sách báo, tài liệu, có duyên gặp gỡ được sự chỉ dạy từ một số người. Trong đó, có một số vấn đề làm mình suy nghĩ, quan tâm đến, và muốn chia sẻ cùng anh chị em bạn bè thôi. Không hề có ý muốn giảng thuyết hoặc tranh chấp đúng sai. Nên chủ yếu là đọc cho vui thôi :-) .
Sỡ dĩ dông dài như vậy là vì trong đời sống xã hội nói chung, con người thường có xu hướng nhìn mọi việc qua lăng kính thiên kiến. Thấy một phần thì tưởng là toàn thể, nắm được một góc thì vội kết luận cả bức tranh. Từ đó, việc phê phán lẫn nhau dường như trở thành thói quen, đôi khi rất vô thức. Mình cũng vậy. Thực tế, lôi cuốn vào những tranh chấp đó, đa phần là tốn thời gian mà lại chẳng giúp ích được gì, cũng không đem lại sự an lạc cho bản thân và cho người khác. Giống như có nhiều tấm bản đồ chỉ cùng một đích đến. Bản đồ 2D, 3D, màu xanh màu đỏ, bút chì bút mực, google map, GPS ..., bản đồ của người này khác với của người kia. Cãi nhau vì cái bản đồ đẹp xấu hay màu sắc khác nhau, mà không thực sự đi, thì cũng chẳng bao giờ đến đích !
Mấy ngày qua, mưa bão, ở nhà đọc một số bài viết, nhận thấy có một vài khái niệm và từ ngữ trong PG rất dễ bị hiểu lầm, mình muốn chia sẻ dưới đây theo cái biết của mình. Hy vọng làm rõ thêm được chút đỉnh, còn nếu như lỡ làm cho quý bạn rối ren hơn thì thành thật xin lỗi vậy !
Trước hết là chữ "Pháp". Không hiểu bắt nguồn từ đâu, một số người khi nhắc đến chữ "pháp" là họ liên tưởng đến một cái gì mang tính pháp thuật, huyền bí, quyền năng, thuộc quyền sỡ hữu của thần linh hay một tôn giáo nào đó. Thực ra, "pháp" chỉ là cách thế giới chung quanh vận hành, ví dụ đập đầu vô tường thì bị u, không làm bài thì bị điểm xấu, chửi người ta thì người ta chửi lại, trời lạnh không mặc áo ấm thì bị cảm lạnh .... Vậy thôi. "Thuận duyên tuỳ pháp" là hiểu được đạo lý duyên khởi, sống dựa theo những nguyên tắc vận hành của thế giới và vũ trụ, không cưỡng cầu nghịch lý như đang đi giữa mưa mà cứ mong được khô ráo. Đức Phật ngày xưa chưa bao giờ cho rằng Ngài là Đấng Toàn năng hay đấng Tạo Hoá, nên chắc chắn Ngài không "chế tạo" ra cái pháp nào. Còn "Phật pháp" là những chân lý hoặc quy luật vận hành vốn tồn tại trong thế giới này mà Đức Phật đã "thấy, biết" (giác ngộ), rồi chỉ dạy lại cho chúng sanh, để mỗi người tự thực hành thoát khỏi vô minh, đoạn diệt phiền não. Thế nhưng thiên hạ có thấy ra, có đi theo, có làm theo, hoặc đi tới đâu, là do duyên nghiệp của mỗi người. Không ai bắt buộc, mà cũng không ai cưỡng cầu.
Kế đến là chữ "tông phái". Trong PG, sự phân biệt tông phái thể hiện khá rõ ràng qua cách một số người nhìn nhận vấn đề. Có người theo Nam Tông (Theravada) dựa vào Tam Tạng Kinh điển để phê phán Bắc Tông (Mahayana), cho rằng kinh điển Đại thừa là thêm thắt, không phải là lời Phật dạy nguyên thủy; kinh Nikayas khác với Agamas; Bồ tát là không có thực ..v.v. Ngược lại, cũng có những người theo Bắc Tông nhìn Nam Tông như con đường “hạn hẹp”, chỉ lo tự giải thoát mà thiếu tinh thần nhập thế, giúp đời... Những cách nhìn như vậy, nếu xét kỹ, đều phản ánh cùng một điều, đó là chúng ta đang chấp vào hình tướng và chữ nghĩa nhiều hơn tinh thần của Phật pháp.
Thật ra, nếu quay về cội nguồn, đạo Phật vốn không có nhiều tông phái. Phật chỉ có một tông, có thể gọi giản dị là Phật Tông. Những gì gọi là Nam Tông, Bắc Tông, Đại thừa, Nguyên thủy, Tịnh độ Tông, Mật tông Kim Cang thừa… đều xuất hiện sau này, tùy theo thời đại, căn cơ, văn hóa, và nhu cầu của con người. Chúng không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện.
Trong đó có những giai đoạn lịch sử, nhu cầu luận giải để tồn tại và truyền thừa đạo pháp trở nên vô cùng quan trọng và bức thiết, nên không tránh khỏi những sự phân chia, bất đồng quan điểm. Tôn giáo và xã hội nào cũng có những giai đọan như vậy. PG biến động nhiều nhất là thời gian sau khi Đức Phật nhập diệt cho đến các thời kỳ sau vua A-dục, và hoàng tử Mahinda. Rồi đến thời kỳ của Ngài Long Thọ Bồ tát và sự phục hồi đạo pháp trước những sự tấn công của các tôn giáo thời bấy giờ. Hơn hai nghìn năm qua, PG được truyền thừa qua nhiều quốc gia, vùng miền, ảnh hưởng nhiều màu sắc văn hoá dân tộc, tư tưởng, phương pháp tu tập của các vị Tổ, và các nghi thức tục lệ đia phương. Nên việc PG ngày nay có những dị biệt và biến tướng sai lệch ở một mức độ nhất định nào đó so với nguồn gốc ban đầu, thậm chí mang sắc thái mê tín cực đoan, cũng không phải là điều khó hiểu lắm. Những câu chuyện lịch sử này thì ngày nay tài liệu có nhiều, ai muốn tìm hiểu thì đọc thêm vậy.
Đức Phật khi còn tại thế chưa từng lập ra một hệ thống giáo điều cố định để người đời sau tranh luận đúng sai. Ngài chỉ chỉ ra khổ, nguyên nhân của khổ, khả năng chấm dứt khổ, và con đường để đi tới đó. Tùy người nghe, tùy hoàn cảnh, Ngài nói khác nhau. Với người này, Ngài nói cách này; với người khác, Ngài nói cách khác. Nếu lời dạy ấy được ghi lại và đặt vào bối cảnh hôm nay, rất có thể cũng sẽ bị xếp vào những “tông phái” khác nhau !
Trong Phật học, có một hình ảnh rất đẹp, đó là chiếc bè qua sông. Pháp là chiếc bè dùng để qua sông. Khi đã qua sông rồi, không ai vác bè lên vai để khoe mình đã dùng chiếc bè nào, làm bằng tre hay bằng gỗ, hàng hiệu hay hàng chợ, hàng của miền này hay miền kia... Nếu nhìn theo tinh thần đó, thì Nam Tông hay Bắc Tông, đều là bè. Kinh Pali hay kinh Đại thừa đều là bè. Thiền, Tịnh, Mật… đều là bè. Vấn đề không nằm ở chiếc bè nào “đúng” hơn, mà là người có bè chịu xuống nước hay không, có thật sự chèo qua sông chưa, hay vẫn còn cột dây ngồi đó ngắm nghía cái bè nào sơn phết đẹp hơn ? Khi còn tranh cãi tông phái, đúng sai, cao thấp, có lẽ chúng ta vẫn đang đứng trên bờ, chỉ trỏ vào chiếc bè của nhau. Trong khi đó, tinh thần cốt lõi của Phật pháp là buông bớt phân biệt, buông bớt cái tôi, buông bớt nhu cầu cần phải thắng trong tranh luận. Nếu một người tụng kinh Pali mà lòng đầy kiêu mạn, thì vẫn còn xa Phật. Nếu một người tụng kinh Đại thừa mà sống thiếu từ bi, thì cũng vậy. Ngược lại, nếu một người sống tỉnh thức, biết bớt làm khổ mình và khổ người, thì dù không gọi tên tông phái nào, người ấy cũng đang đi trên con đường của Phật.
Tông phái chỉ là cách con người tạm phân loại để dễ hiểu, dễ đi. Phương tiện chỉ là những dấu mốc trên đường để khỏi lạc lối. Nhưng nếu biến những điều ấy thành bản sắc để bảo vệ, thành hàng rào để phân biệt, thì rất có thể ta đã quên mất lý do ban đầu vì sao mình bắt đầu.
Phật chỉ có một tông. Còn tông phái là do con người đặt tên. Hiểu được điều đó, có lẽ đã là một bước tu rồi !
Một khái niệm nữa được rất nhiều người thường xuyên nhắc đến như là mục đích tối hậu, đó là "Giác Ngộ". Trong các kinh điển hoặc các bài giảng, sự "giác ngộ" được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và trạng thái khác nhau tuỳ vào cách nhìn nào, ví dụ như là, trong sáng, rỗng rang, tịch tịnh tuyệt đối; thấy ra "Tánh Biết"; tri kiến giác ngộ; chấm dứt vô minh; đoạn diệt khổ đau (Khổ diệt), tuệ giác thấu suốt bản thể vạn vật; đại viên cảnh trí ...v.v.. Bởi vậy, một số người khi nghe đến chữ “giác ngộ” thường hình dung đó là một trạng thái nào đó rất siêu nhiên, xa đời sống, thoát tục, rời bỏ thế gian, rũ sạch bụi trần, không còn vướng bận buồn vui. Nhưng nếu nhìn kỹ lại tinh thần PG, giác ngộ không hề là một cuộc chia tay hay trốn chạy. Nó không đưa con người ra khỏi cuộc đời, mà đưa con người trở về với chính cuộc đời này, như nó đang là.
Giác ngộ không phải là không còn đau, mà là thấy rõ nỗi đau khi nó đang có mặt. Không phải là không còn sợ, mà là nhận ra nỗi sợ khi nó nổi lên, không phủ nhận, cũng không chạy trốn. Khi thấy rõ được như vậy, nỗi đau và nỗi sợ không còn quyền lực tuyệt đối nữa. Chúng vẫn đến, rồi đi, nhưng không còn ai bị chúng cuốn theo !
Có một hiểu lầm khá phổ biến cho rằng người tu hành hay người tỉnh thức là người lúc nào cũng an nhiên, bình thản, như thể đã đứng ngoài mọi biến động. Thực ra, người thấy đời rõ hơn lại thường "cảm" đời sâu sắc hơn. Họ vui khi có niềm vui, buồn khi có nỗi buồn, thương khi có thương, mất mát khi có mất mát. Chỉ khác ở chỗ, họ không đồng hóa mình với những cảm xúc ấy, mà chỉ thấy “nỗi buồn, niềm vui" đang có mặt. Nhận ra sự hiện diện của mọi cảm xúc, đến rồi đi !
Giác ngộ, theo nghĩa này, không phải là đạt đến một cảnh giới siêu nhiên, cao vời, mà là không còn nhu cầu cần phải cao vời, khác thường. Không cần biến đời thành thiên đường, cũng không cần biến mình thành một ai khác. Chỉ cần thấy rõ những gì đang xảy ra, trong thân, trong tâm, và trong mối quan hệ với thế giới chung quanh. Đức Phật sau khi giác ngộ vẫn đi, vẫn nói, vẫn ăn, vẫn đau lưng, vẫn mệt. Các vị thiền sư giác ngộ vẫn cày ruộng, gánh nước, chăm sóc người khác, đối diện với những việc rất thường ngày. Cuộc đời không biến mất; chỉ có cách họ nhìn cuộc đời là đổi khác !
Giác ngộ không làm cho con người trở nên đặc biệt. Ngược lại, nó làm cho con người bớt đặc biệt hóa chính mình, vì thực chất là không có ai, không có "cái tôi" nào ở đó mà mong cầu đặc biệt. Khi không còn cố gắng đứng cao hơn người khác, họ tự nhiên đứng gần hơn với mọi người chung quanh. Nôm na, nói một cách đơn giản là giác ngộ không phải là thoát khỏi đời, mà là ở lại với đời, nhẹ hơn, rõ hơn, và chân thật hơn.
Kế đến là chữ "vô thường" (impermanence). Khái niệm này thì dễ hiểu, mà ai cũng thường nghe, đặc biệt là trong các bài giảng pháp thoại, hoặc là trong các câu chuyện xã giao hàng ngày. Đơn giản, nghĩa là vạn vật đều luôn thay đổi, không có gì thường hằng. (Mở ngoặc chút, có lẽ một số người từng nghe qua câu nói - sinh hữu tác thành, và cũng có thứ không sinh, không hữu, không tác, không thành - nhưng với phạm vi bài viết này, mình tạm bỏ qua ý này. Hẹn dip khác nói sau).
Tuy nhiên có một số người hiểu lầm, cho rằng quy luật vô thường là của đạo Phật "sáng chế" ra. Thực ra đây là quy luật của vũ trụ, đã có hàng tỉ tỉ năm trước khi Đức Phật ra đời. Không ai sinh ra nó, mà cũng không bao giờ bị mất đi. Vô thường là cách "pháp" vận hành. Đức Phật chỉ chỉ ra quy luật hiển nhiên đó cho chúng sanh, vì đó cũng là một nguyên nhân của khổ đau nếu như con người cứ cưỡng cầu, bám víu vào những thứ luôn biến đổi mà mong mỏi sự thường hằng. Thế nhưng trong đời sống thỉnh thoảng cũng nghe đến những câu chuyện có người tin tưởng xây dựng được những thứ bền vững đời đời. Và cũng không hiếm nhũng người hiểu rõ đạo lý vô thường, nhưng tin thì vẫn tin, chờ thì vẫn chờ, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ thay đổi, bất di bất dịch. Một trong những câu nói cuối cùng của Đức Phật, cũng nhắc lại quy luật vô thường cho hàng đệ tử trước lúc ra đi.
Mới hôm rồi nói chuyện vui với một người bạn, mình cho rằng ngay cả giới hạnh cũng phải theo quy luật vô thường, cũng phải thay đổi cho phù hợp, thích nghi với hoàn cảnh tu tập. Giả dụ như các nhà sư "đi bộ vì hoà bình" mà khư khư giữ giới hạnh đầu đà (dhutaṅga) như các tu sĩ thời của Đức Phật, thì chắc chắn là đã không có sự kiện "Walk for Peace" hôm nay rồi. Vì không ai có thể đi chân trần giữa trời bão tuyết băng giá như thế, mà mặc ba y một bát, tối ngủ ngoài nghĩa địa hay bãi đất trống ở các nước Bắc Mỹ, Bắc Âu.
Một từ ngữ nữa trong PG, có hàm ý vô cùng sâu sắc, đó là "Vô Ngã". Tất nhiên, không thể nói hết ý nghĩa lý thuyết này trong vài cuốn sách chứ huống chi là vài dòng chữ. Nhưng đây là một lý thuyết vô cùng quan trọng cho những ai muốn đi sâu trên con đường thực hành PG. Lý thuyết này còn liên quan đến những khái niệm sâu sắc khác như "tánh Không" (emptiness), "linh hồn", tái sanh, đắc đạo ....v.v... và cũng là điểm khác biệt mấu chốt nhất giữa giáo lý PG và những tôn giáo khác. Dĩ nhiên, đây là một khái niệm tương đối khó diễn giải bằng ngôn ngữ, không khéo thì dễ dẫn đến những ngộ nhận hoặc suy diễn lệch lạc. Cho nên ở đây mình chỉ tóm lược vài ý gần gũi với đời sống hàng ngày thôi.
Trong đạo Phật có một cách nhìn rất lạ, và cũng rất sâu sắc, đó là coi con người chưa bao giờ thật sự sinh ra, nên cũng chưa bao giờ thật sự chết đi. Nghe qua, điều đó có vẻ nghịch lý, thậm chí khó chấp nhận. Bởi ai cũng thấy rõ ràng trước mắt, có sinh có tử, có đến có đi. Tuy PG không phủ nhận những gì mắt thấy tai nghe, nhưng để hiểu cái nhìn "vô ngã" đó, con người cần phải nhìn sâu hơn vào cái mà ta luôn gọi là “ta” !
Nếu quan sát thật kỹ, thì cái gọi là “ta” chưa bao giờ đứng yên và tồn tại cố định. Thân thể này thay đổi từng ngày từng giờ. Ý nghĩ đến rồi đi, từng phút từng giây, không báo trước. Cảm xúc sinh ra, rồi tan biến. Ngay cả ký ức về chính mình cũng thay đổi theo thời gian. Theo PG, thứ tiếp diễn đó không phải là một cái "ta" cố định, mà là một dòng chảy của điều kiện. Có điều kiện thì hiện ra; điều kiện đổi thì hình tướng đổi. Giống như ngọn lửa được truyền từ cây đuốc này sang cây đuốc khác - có vẻ như cùng một ngọn lửa, nhưng thật ra chỉ là sự tiếp nối của nhiệt, của duyên, của gió và vật liệu. Nếu bạn nào biết qua vật lý lượng tử, có một khái niệm na ná như vậy nhưng tương đối dễ hiểu hơn, đó là "the observer effect in quantum mechanics", hành trình của các hạt lượng tử không cố định, luôn biến đổi theo cái nhìn và điều kiện tương tác.
Nói một cách khác, "vô ngã" trong PG không có nghĩa là “không có mình”, hay phải "xoá bỏ sự tồn tại của bản thân”. Vô ngã chỉ đơn giản là không có một cái tôi cố định, bất biến để bám vào. Cái “tôi” mà ta vẫn quen gọi tên, thực ra luôn thay đổi - hôm nay nghĩ khác hôm qua, vui buồn đổi liên tục, quan điểm sống cũng đổi theo hoàn cảnh. Thấy được vô ngã là thấy rằng những gì mình "đang là" chỉ là tạm thời, không cần phải bảo vệ hay đồng hoá quá mức. Khi không còn tin tuyệt đối vào cái tôi đang xuất hiện, con người tự nhiên bớt cố chấp, bớt khổ vì hơn thua, và dễ thở hơn khi cuộc sống đổi thay.
Thời nay, cái tôi có rất nhiều chỗ để phô bày và cũng rất dễ bị tổn thương. Trên mạng xã hội, một bài đăng, một bình luận, vài trăm lượt thích, hay vài lời chê bai cũng đủ làm tâm trạng lên xuống. Mạng xã hội khiến cái "ta" lúc nào cũng phải được nhìn thấy, được công nhận, được phản hồi. Trong khi đó, "vô ngã" lại đi ngược dòng. Nó nhắc nhở rằng mình không cần phải liên tục chứng minh mình là ai. Người ta thích hay không thích, nhớ hay quên, không nhất thiết phải trở thành thước đo giá trị của mình. Thực hành "vô ngã" giữa đời sống hiện đại không phải là rời bỏ mạng xã hội, mà là dùng nó nhưng không để nó điều khiển cảm xúc và lòng tự trọng của mình. Đăng thì đăng, nói thì nói, nhưng không để cái tôi phình to theo lời khen, hay co rút lại vì lời chê. Khi đó, mình vẫn sống giữa đời, nhưng không bị đời kéo đi quá xa :-)
PG cho rằng cái tôi cố định vốn không có thực, mà nó chỉ là sản phẩm của ngũ uẩn (the five aggregates/ five skandhas) và các thức (consciousness) tạo tác. Tuy nhiên vì con người không thấy được điều đó, nên rơi vào "vô minh". "Vô minh" không phải là ngu dốt theo nghĩa nhiều người thường nghĩ, mà chỉ là ảo tưởng có một cái “tôi” riêng biệt, cố định, sinh ra rồi sẽ mất đi. Từ cái tưởng ấy, nảy sinh ra sợ hãi và khổ đau. Sợ mất. Sợ chết. Sợ thua. Sợ không còn là mình. Và từ sợ hãi ấy, con người bám víu, tranh giành, hám danh, cầu lợi, sĩ diện, bảo vệ tên tuổi, tạo tác không ngừng. Rồi khi không được thoả mãn hoặc như ý thì khổ đau. Chỉ đơn giản là vậy.
Cho nên, dù theo tông phái nào, thiền sư ở ẩn trên núi cao, hay cao tăng dấu mình trong chốn rừng sâu tu tập, cuối cùng rồi cũng phải trực diện "trận chiến sống còn" với cái "tự ngã" trước khi bước qua ngưỡng cửa khác. Thái tử Tất Đat Đa ngày xưa ngồi thiền dưới gốc bồ đề 49 ngày cũng phải trải qua những thử thách này trước khi giác ngộ thành Phật. Trong kinh điển PG có nhiều câu chuyện rất hay về đạo lý "cái tôi", "cái ngã". Duy Thức học của PG cũng nói rất rõ về cách vận hành của Mạt Na thức, bạn nào có điều kiện nên đọc. Trong Thiền tông, câu chuyện của ngài Thần tú và Huệ Năng ngày xưa cũng là một ví dụ rất hay :-).
Thôi, nhìn tới nhìn lui, nãy giờ viết một lèo, cũng chỉ mong mấy chữ “dao to, búa lớn” không bị hiểu lầm. Mà trớ trêu là rốt cuộc phải dùng ngôn từ để giải thích ngôn từ, càng giải thích thì càng dễ lệch lạc. Vì ngôn ngữ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện, mà đã là phương tiện, thì không phải là chân lý.
Nhưng con người lại rất dễ quên điều đó, quen dùng chữ nghĩa để diễn đạt, để giải thích, để phân tích, rồi dần dần tưởng rằng những gì có thể nói ra bằng lời chính là điều thật nhất. Trong khi đó, có rất nhiều điều trong đời sống, đặc biệt là những điều sâu sắc nhất, lại nằm ngoài khả năng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp ta tiếp cận, nhưng không thể thay thế cho sự "thấy, biết" trực tiếp. Ta có thể nói rất nhiều về vô thường, nhưng chỉ khi thật sự đối diện với mất mát, ta mới hiểu vô thường là gì. Ta có thể giảng giải rất hay về vô ngã, nhưng chỉ khi buông được một phần cái tôi trong đời sống hằng ngày, ta mới chạm được vào điều ấy.
Ngôn ngữ có giới hạn của nó. Nó luôn đi sau trải nghiệm. Nó mô tả, nhưng không phải là thực tại. Nó giống như bản đồ, rất cần thiết để định hướng, nhưng không phải là con đường. Nhìn bản đồ mãi mà không chịu bước đi, thì dù thuộc lòng từng ký hiệu, ta vẫn đứng yên tại chỗ. Ngôn ngữ sinh ra để phục vụ con người. Nhưng khi con người biến nó thành nơi bám víu, nó lại trói ngược con người. Chữ nghĩa lúc ấy không còn mở đường, mà chỉ làm dày thêm lớp sương mù giữa ta và thực tại.
Cũng vì vậy mà trong đạo Phật, người ta thường nhắc đừng lầm ngón tay chỉ trăng với mặt trăng. Ngón tay không sai. Nó rất cần. Nhưng nếu chỉ chăm chăm nhìn ngón tay, tranh luận xem ngón tay nào dài hơn, đúng hướng hơn, thì mặt trăng vẫn ở đó, còn ta thì chưa từng nhìn thấy.
Tóm lại, Phật pháp không nằm ở việc ta gọi tên con đường mình đi bằng danh xưng gì, cũng không nằm ở việc ta dùng chiếc bè nào để qua sông. Phương tiện phù hợp ở giai đoạn này chưa chắc còn phù hợp ở giai đoạn khác. Có những thứ từng giúp ta đứng vững, nhưng nếu ôm mãi, lại khiến ta không đi tiếp được. Nhận ra lúc nào nên nương vào phương tiện, và lúc nào nên buông phương tiện, cũng là một phần của trí tuệ.
Con đường của Phật pháp, suy cho cùng, không phải để phân chia, mà để hóa giải. Không phải để trở thành con người đặc biệt hơn, mà để làm con người bớt bị trói buộc hơn. Mình chia sẻ vài ý nghĩ trong bài này cũng chỉ là vậy. Không mong ai đồng ý hết, cũng không mong ai thay đổi gì ngay. Chỉ mong mỗi người, trong đời sống của mình, có thêm đôi chút lắng lại để nhìn cho rõ hơn. Đi được bao xa thì đi, mệt thì dừng. Thấy hợp thì giữ, không hợp thì buông. Nghĩ cho cùng, cũng giống như mấy cây Camellia ngoài kia. Không cần cố nở sớm hơn, cũng không cần lo lắng quá nhiều. Tới lúc đủ nắng đủ ấm, hoa sẽ nở. Không phải vì ai ban phát, mà vì nhân duyên đã chín.
Cảm ơn đã đọc. Chúc tất cả một cuối tuần an lành hạnh phúc !
PN
.jpg)








