Hôm nay định dọn vườn, quét lá chuẩn bị mùa thu, thì trời lại mưa. Thế là có chút thời gian để nói về đề tài này :-).
Lâu nay, người VN ta thường nói "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Không biết các cụ ngày xưa có làm thống kê kinh tế hay nghiên cứu GDP bình quân đầu người gì hay không, nhưng câu nói này nghe qua tưởng đơn giản, mà ngẫm kỹ lại thì khá thú vị.
Trước tiên, phải nói cho rõ là câu nói trên chỉ đúng theo "nghĩa bóng", chứ không phải "nghĩa đen". Nên nó không có nghĩa rằng cứ đến đời thứ ba thì nhà giàu nhất định phá sản, còn nhà nghèo tự nhiên trúng số. Nếu dễ như vậy thì chắc các ông thầy bói, các ông "sư phụ" oan gia trái chủ, và các nhà kinh tế học thất nghiệp hết rồi :-)
Có lẽ điều mà các cụ muốn nói đến sâu sắc hơn, đó là không có hoàn cảnh nào tồn tại mãi mãi. Nhà hôm nay giàu, chưa chắc con cháu ngày mai vẫn giàu. Người hôm nay nghèo chưa chắc đời con, đời cháu vẫn nghèo. Tài sản có thể tạo ra tài sản, nhưng cũng có thể tạo ra những đứa con không còn biết tài sản ấy từ đâu mà có. Nghèo khó có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng đôi khi chính sự thiếu thốn lại sinh ra ý chí vượt khó, muốn bước ra khỏi hoàn cảnh cũ !
Tất nhiên, còn có những yếu tố lớn hơn như chiến tranh, thời cuộc, thể chế chính trị, biến động xã hội… có thể làm thay đổi số phận của cả một gia đình hay nhiều thế hệ. Âu cũng là chuyện thường thấy trong cuộc sống.
Ngoài lề một chút. Nhớ hơn chục năm trước, có lần mình về quê Ngoại thắp nhang cho ông cố. Vật đổi sao dời, lâu ngày không về nên mình cũng quên mất lối vào mộ. Loay hoay một hồi, cuối cùng cũng hỏi được một người quen dẫn đường. Bạn ấy rất nhiệt tình, vừa đi vừa nói một câu rất tự nhiên - Mả ông cố bạn chôn trong đất nhà tôi mà !
Nghe xong, mình thoáng chút ngậm ngùi. Nhưng rồi cảm giác ấy cũng nhanh chóng qua đi. Mình tự nhủ, có lẽ bạn ấy chưa biết những câu chuyện xa hơn. Gia đình mình cũng như nhiều gia đình khác ở quê ngày xưa. Ông bà từng có nhiều ruộng vườn, đất đai; khi qua đời, thường được an táng ngay trên phần đất của gia đình hay dòng họ. Sau những biến động xã hội và chính sách đất đai sau năm 1975, nhiều gia đình bị xếp vào diện địa chủ hay phú nông, ruộng đất được đưa vào hợp tác xã, chứ cũng chẳng đền bù, mua bán gì. Đến khi mô hình hợp tác hóa thay đổi, quyền sử dụng những đất đai ruộng vườn ấy lại được phân chia, sắp xếp qua nhiều đợt và dần thuộc về những gia đình khác !
Thế là qua một vòng lịch sử, đất vẫn nằm đó, mồ mả ông bà vẫn nằm đó, chỉ có tên "người chủ" trên mặt đất là thay đổi. Và những ngôi mộ vốn ngày xưa được chôn ngay trên đất nhà mình, mấy chục năm sau bỗng hóa thành mồ mả "chôn ké" trên đất nhà người khác. Ở quê mình, những câu chuyện như vậy chẳng có gì hiếm. Những người thuộc thế hệ mình trở lên phần nhiều đều hiểu hoàn cảnh lịch sử ấy. Chỉ hơi buồn là đôi khi những người chủ mới không biết, hoặc không còn nhớ câu chuyện của mảnh đất trước khi nó thuộc về gia đình họ, nên mới nảy sinh chuyện lấn ranh, cắt xén phần đất quanh mộ, rồi từ đó sinh ra những va chạm không đáng có giữa người sống với nhau, trong khi người nằm dưới đất chắc chẳng còn thiết tha gì chuyện ai sở hữu thêm vài mét vuông :-).
Nghĩ kỹ lại cũng thú vị. Ngày xưa ông bà có đất nên được chôn trên "đất nhà mình". Mấy chục năm sau vẫn nằm nguyên một chỗ, chẳng buôn bán gì, chẳng nhúc nhích đi đâu, vậy mà đã thành nằm trên "đất nhà người ta". Thêm vài chục hay vài trăm năm nữa, ai biết mảnh đất ấy sẽ mang tên ai? Có khi cái thay đổi không phải là đất. Chỉ là cái chữ "của tôi" mà mỗi thế hệ lần lượt đặt lên nó.
Suy cho cùng, chuyện ấy cũng chẳng có gì quá lạ. Nó chỉ là một phiên bản rất đời thường của câu “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.” Và nếu nhìn xa hơn một chút, lại thấy thấp thoáng chữ vô thường - tài sản đổi chủ, ruộng vườn đổi tên, người giàu thành nghèo, người nghèo thành chủ đất; hết thế hệ này đến thế hệ khác đến rồi đi.
Đất vẫn nằm đó. Chỉ có con người thay nhau đứng trên đất mà nói "Đất của tôi". Đời người cứ thế mà lên xuống. Nhưng nghĩ rộng hơn, chuyện ấy đâu chỉ xảy ra với một gia đình.
Quốc gia cũng vậy ! Hôm qua ở trên thiên hạ, cường quốc số một, số hai, hôm nay chưa chắc. Lịch sử nhân loại giống như một sân khấu rất dài. Ai có đọc qua lịch sử thế giới đều biết. Có thời, Ai Cập là một trong những trung tâm quyền lực lớn nhất của thế giới cổ đại. Rồi Ba Tư, Hy Lạp, La Mã… nhiều thế kỷ sau, lại đến những đế chế và trung tâm quyền lực khác. TQ cũng có những thời kỳ là một trong những khu vực giàu có, đông dân và có trình độ kỹ thuật cao nhất thế giới. Có lúc thế giới Hồi giáo là trung tâm lớn của khoa học, y học, toán học và thương mại, v.v.
Rồi các cường quốc hàng hải châu Âu vươn lên. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan từng có những thời kỳ mà tàu bè, thương mại và quyền lực của họ trải khắp nhiều vùng trên thế giới. Đến thế kỷ XIX, người Anh có thể tự hào rằng "mặt trời không bao giờ lặn" trên Đế quốc Anh. Nghe cũng oai, nhưng mặt trời cuối cùng vẫn… lặn. :-). Ngày nay Anh vẫn là một quốc gia phát triển và có ảnh hưởng, nhưng chẳng còn ai mở bản đồ rồi tô một phần tư thế giới bằng màu của Đế quốc Anh nữa.
Sau Thế chiến II, Mỹ bước lên vị trí đặc biệt trong trật tự thế giới, trở thành cường quốc lớn nhất. Nhưng nếu lịch sử còn dạy được điều gì, thì có lẽ điều đầu tiên là - không có chiếc ghế số một nào được đóng đinh xuống đấu trường thế giới ! Dù muốn hay không, dù thương hay ghét, thì vũ trụ vẫn vận hành theo những quy luật vô thường, duyên sinh duyên khởi của nó . Đó chính là sự vận hành của "pháp" theo cách hiểu của PG.
Nhắc mới nhớ, mình có người bạn rất quan tâm đến chuyện hơn thua, số một, số hai… trong cuộc sống. Có lần nói với mình về khả năng "tiên đoán" của bạn về vị trí số một thế giới. Mình thì vốn không quan tâm lắm về chuyện mấy con số, nên đùa nói rằng "mấy vụ này thì mình không rành lắm, nhưng cứ dòm chừng mấy cái hàng xin visa trước cửa các tòa đại sứ, lãnh sự. Coi thấy hàng nào dài nhất thì cũng đoán được nước đó còn chưa bị "đội sổ" :-).
Trở lại chuyện "giàu ba họ, khó ba đời". Người giàu thường dễ tưởng mình sẽ giàu mãi. Điều thú vị là lúc đang ở trên đỉnh, con người rất khó tưởng tượng một ngày mình sẽ đi xuống. Gia đình giàu có cũng vậy. Doanh nghiệp cũng vậy. Quốc gia lại càng vậy. Khi thành công kéo dài đủ lâu, người ta rất dễ nhầm kết quả của một giai đoạn lịch sử với quy luật tự nhiên. Họ bắt đầu nghĩ chúng ta giàu vì chúng ta đặc biệt hơn, tài giỏi hơn, chúng ta mạnh vì chúng ta ưu việt, chúng ta dẫn đầu vì đó là vị trí đương nhiên thuộc về chúng ta... Còn người khác nghèo vì họ kém, người khác yếu vì họ không bằng mình, hoặc chưa gặp thời, hoặc chưa gặp được ông thầy phong thủy giỏi… v.v. Nhưng lịch sử thường không quan tâm lắm đến những niềm tin như vậy. Nó cũng chẳng quan tâm hôm qua anh là ai !
Thực tế, có những quốc gia không hề trở nên ngu dốt sau một đêm. Chỉ đơn giản là thế giới chung quanh thay đổi. Venice từng giàu có nhờ thế giới, rồi thế giới đổi đường đi. Venice từng là một trung tâm thương mại cực kỳ giàu có nhờ vị trí đặc biệt trong mạng lưới buôn bán giữa châu Âu và phương Đông. Nhưng rồi những tuyến hàng hải mới được mở ra.Trọng tâm thương mại dịch chuyển. Đại Tây Dương trở nên quan trọng hơn Địa Trung Hải. Cũng như bây giờ, ai biết được mười năm sau eo biển Hormuz có còn quan trọng không ?
Venice vẫn đẹp. Những cung điện vẫn còn. Những con kênh vẫn còn. Nhưng thế giới kinh tế đã đi sang một con đường khác. Đôi khi suy tàn không phải vì mình trở nên tệ hơn. Mà vì luật chơi đã thay đổi trong khi mình vẫn chơi rất giỏi trò chơi cũ. Câu này có lẽ cũng đúng và sẽ đúng với thời đại AI ngày nay… :-).
Nước Nhật cũng là một câu chuyện đáng suy ngẫm. Sau Thế chiến II, Nhật từ một đất nước bị tàn phá vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Đến những năm 1980, người ta từng nói rất nhiều về sức mạnh kinh tế của Nhật. Doanh nghiệp Nhật mua bất động sản nổi tiếng ở Mỹ. Xe Nhật chạy khắp nơi. Điện tử Nhật gần như trở thành biểu tượng của chất lượng. Có lúc người Mỹ còn lo Nhật sẽ "mua cả nước Mỹ". Rồi bong bóng vỡ. Tuy Nhật không biến thành một nước nghèo hẳn, đến nay, họ vẫn là một trong những nền kinh tế phát triển và xã hội có trình độ công nghệ cao. Nhưng câu chuyện Nhật nhắc nhở thế giới rằng đang tiến rất nhanh không có nghĩa là sẽ tiến với cùng tốc độ mãi mãi !
Và người nghèo cũng không nhất thiết nghèo mãi. Chiều ngược lại cũng thú vị không kém. Hàn Quốc sau chiến tranh từng là một quốc gia nghèo. Singapore khi mới độc lập chẳng có nhiều tài nguyên thiên nhiên. TQ cuối thập niên 1970 còn rất khác với TQ ngày nay, đói nghèo và cực đoan đến cùng cực. VN của những thập niên sau chiến tranh, hợp tác xã, bao cấp… cũng khác rất xa VN hôm nay. Tất nhiên, không phải mọi con đường phát triển đều giống nhau, và sự phát triển nào cũng có cái giá, vấn đề và giới hạn riêng của nó.
Nhưng ít nhất, lịch sử cho thấy xuất phát điểm không phải là số phận. Và đây có lẽ chính là nửa sau đầy hy vọng của câu nói - "không ai khó ba đời" :-)
Vậy có thật lịch sử vận hành theo chu kỳ không ? Nói đến đây, có lẽ chúng ta nên cẩn thận một chút. Lúc ở VN, mình thương nghe người ta nói "Thịnh rồi suy, suy rồi thịnh". Nghe cũng rất hợp lý. Nhưng thực tế thì quốc gia không phải mặt trăng để cứ mười lăm ngày tròn, rồi mười lăm ngày khuyết. Cũng không có một công thức nào chứng minh một đế quốc cứ đúng hai trăm năm thì phải suy một lần :-)
Lịch sử phức tạp hơn nhiều. Một quốc gia đi xuống có thể vì chiến tranh, thể chế yếu kém, tham nhũng, xã hội phân hoá, chia rẽ, bất bình đẳng, dân số, công nghệ, tài nguyên, giáo dục, địa lý, chính sách sai lầm, nhóm lãnh đạo bất tài, hoặc vì thế giới chung quanh thay đổi… Ngược lại, một đất nước có thể đi lên nhờ cải cách, giáo dục, khoa học, thương mại, cải cách thể chế tốt, khả năng thu hút nhân tài và đôi khi cả một chút may mắn của lịch sử.
Vì vậy, mình không nghĩ "chu kỳ" là một định luật. Nhưng có một điều gần như chắc chắn, đó là mọi điều kiện đều thay đổi. Và đây là chỗ câu chuyện kinh tế gặp Phật học. Vô thường !
Vô thường vốn không phải chỉ là câu niệm ở chùa, hay một câu nói vui trên bàn nhậu, hay một lời cảm thán dành cho vài sợi tóc bạc, sức khỏe giảm sút, hay chỉ là câu chuyện giàu nghèo, lên voi xuống chó. Trong PG, khi nói đến vô thường, người ta thường nghĩ ngay đến diễn biến của đời người, sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng vô thường đâu phải chỉ xảy ra trong cơ thể con người. Một gia đình vô thường. Một doanh nghiệp vô thường. Một thể chế vô thường. Một đế quốc vô thường. Một trật tự thế giới cũng vô thường. Tất cả những gì tồn tại do điều kiện tạo thành đều thay đổi khi những điều kiện ấy thay đổi. Đó chính là mối tương quan duyên sinh duyên khởi !
Đế quốc La Mã không có một cái "La Mã" bất biến. Nước Anh không có một cái "Đế quốc Anh" thường hằng. Mỹ cũng không có một bản chất siêu hình nào bảo đảm rằng vị trí của mình trong thế giới hôm nay sẽ tồn tại vĩnh viễn. TQ cũng vậy. VN cũng vậy. Không dân tộc nào được miễn trừ khỏi quy luật vô thường.
Lịch sử không chỉ vô thường ở chuyện ai lên, ai xuống. Mà ngay cả ý nghĩa của "thịnh" và "suy" cũng vô thường. Có triều đại mất quyền lực mà cái tên vẫn còn; có triều đại mất rất nhanh nhưng những gì nó tạo ra lại sống thêm hàng nghìn năm. Dài chưa chắc đã mạnh. Ngắn chưa chắc không để lại dấu ấn. Đang cực thịnh cũng chưa chắc sẽ kéo dài. Đang suy cũng chưa chắc lập tức biến mất. Như bên Tàu, nhà Chu sống gần 800 năm, nhưng không phải 800 năm làm bá chủ TQ. Còn nhà Tần thì gần như đối cực hoàn hảo, Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ năm 221 TCN, nhưng vương triều sụp đổ chỉ khoảng 14 năm sau, một triều đại ngắn nhất của TQ thống nhất. Còn nước ta, nhà Hồ cải cách nhiều nhưng chỉ tồn tại 7 năm, còn nhà Hậu Lê kéo dài hơn 350 năm. Tuy thời Lê Thánh Tông, nhà Lê đạt một trong những đỉnh cao về tổ chức nhà nước, luật pháp, văn hóa và lãnh thổ, nhưng đến thời Lê Trung Hưng, vua Lê phần lớn chỉ còn danh nghĩa, quyền lực thực tế nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Cho nên thịnh suy cũng chẳng theo quy luật thời gian nào. Tuy nhiên, nguy hiểm nhất có lẽ là lúc con người quên mất mình đang vô thường. Một người nghèo biết mình nghèo thường còn muốn cố gắng. Một quốc gia yếu biết mình yếu thường còn muốn cải cách. Nhưng điều nguy hiểm đôi khi lại bắt đầu khi người ta thành công quá lâu. Thành công tạo ra tự tin. Tự tin lâu ngày có thể biến thành tự mãn. Tự mãn lâu ngày sinh ra ảo tưởng rằng những nguyên nhân từng làm mình thành công sẽ tiếp tục hoạt động mãi mãi. Rồi người ta không còn muốn nghe những điều khó nghe. Không muốn sửa những gì đang hỏng. Không muốn học từ người khác nữa !
Và đặc biệt nguy hiểm nhất là con người bắt đầu tin rằng "Chúng ta khác. Những quy luật từng xảy ra với thiên hạ sẽ không xảy ra với chúng ta". Lịch sử xưa nay hình như đặc biệt thích những tư duy như vậy. :-). Một đất nước khi đã đến giai đoạn đó thì đầy rẫy nạn kiêu binh, ái kỷ, tự tôn, bạo lực… và không còn lắng nghe những điều phải quấy nữa. Câu nói "không ai giàu ba họ, khó ba đời" lại càng trở thành câu nói rất đáng chiêm nghiệm !
Nói tới đây mới nhớ là mình đã có rất nhiều lần được nghe các câu hỏi đại khái như - Tại sao ông đó tài giỏi thế, chịu khó làm ăn, mà con cái lại như vậy ? Hoặc là tại sao đất nước đấy giàu có vậy, nhiều người tài giỏi vậy, sao có những con người như thế nọ thế kia, không phân biệt được phải quấy ? v.v…Nôm na ý chính của câu hỏi là tại sao thế hệ tạo dựng thường khác thế hệ thừa hưởng ?
Câu trả lời đơn giản nhất là một nghịch lý rất thường gặp - người ta có thể để lại tiền bạc cho con, nhưng không thể để lại nguyên vẹn những gian khó đã tạo nên chính nó. Trong khi chính gian khó ấy mới là phần quan trọng nhất của gia tài !
Người gây dựng thường bắt đầu từ cái chưa có. Người thừa hưởng lại bắt đầu từ cái đã có. Chỉ khác nhau vài chữ, nhưng đôi khi tạo nên hai kiểu con người rất khác. Người cha ngày trước đi bộ nên hiểu giá trị của chiếc xe đạp. Có chiếc xe đạp rồi mới biết quý chiếc xe máy. Dành dụm nhiều năm mới mua được chiếc ô tô thì mỗi vết trầy cũng thấy xót. Đến đời con, vừa đủ tuổi lái xe đã có ô tô. Đời cháu lên đại học mà chiếc xe không đúng hiệu mình thích thì lại thấy… cuộc đời hơi bất công. :-)
Không hẳn vì đứa cháu xấu hơn ông. Chỉ đơn giản là nó chưa từng sống trong thế giới của ông. Cho nên có những thứ để lại được, có những thứ không. Một người có thể để lại cho con một căn nhà. Nhưng không thể để lại nguyên vẹn cảm giác của những năm tháng phải thuê một căn phòng nhỏ. Có thể để lại một triệu đô. Nhưng không thể chuyển khoản cùng với số tiền ấy, những năm tháng từng phải đắn đo cân nhắc từng đồng.
Nhiều người có thể để lại một công ty, nhưng không thể ký giấy sang tên những nhọc nhằn bôn ba, mánh khóe thương trường, hoặc ưu tư lo lắng của những đêm mất ngủ khi công ty sắp phá sản. Có thể để lại bằng sáng chế, nhà máy, cổ phần, đất đai. Nhưng rất khó để lại cơn đói từng khiến mình phải cố gắng. Đó chính là nghịch lý của sự thành công - những người gây dựng cơ nghiệp thường muốn con cháu không phải chịu những gian khổ mà mình từng chịu. Nhưng chính khi thành công trong việc loại bỏ những gian khổ ấy, họ đôi khi cũng vô tình loại bỏ một phần môi trường đã rèn nên chính mình. Cho nên thỉnh thoảng có đọc tin tức thấy những ông tỷ phú Mỹ, di chúc đem biếu tặng hết gia sản mà không để lại cho con. Và đó cũng là tư duy khác biệt giữa người tạo dựng và người thừa hưởng. Người tạo dựng cơ nghiệp và người thừa hưởng cơ nghiệp thường lớn lên trong hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Tất nhiên, đó không phải là định luật, cũng có những gia đình duy trì tài sản qua rất nhiều thế hệ.
Tương tự, cha mẹ từng nghèo thường nghĩ "Ngày xưa mình khổ quá, nhất định không để con mình khổ như vậy". Hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng nếu đi quá xa, một ngày nào đó, đứa trẻ có thể lớn lên mà không biết một bữa cơm đến từ đâu, đồng tiền khó kiếm thế nào, hay tại sao người khác phải làm việc mười tiếng mỗi ngày. Không phải vì nó ác, mà vì kinh nghiệm sống của nó chưa từng dạy nó điều ấy. Bởi tài sản có thể thừa kế, kinh nghiệm thì không. Tài sản có thể chuyển giao bằng giấy tờ, nhưng kinh nghiệm thì không thể. Có những kiến thức có thể truyền bằng lời, nhưng có những thứ chỉ cuộc đời mới dạy được !
Đời thứ nhất xây, đời thứ hai giữ, đời thứ ba…nướng :-) . Đó là chuyện không phải chỉ có ở VN đâu nghen, mà nhiều nền văn hóa khác cũng có những cách nói khá giống câu tục ngữ đó. Người Mỹ có câu “shirtsleeves to shirtsleeves in three generations”, đại ý là từ tay trắng gây dựng, rồi sau vài thế hệ lại có thể trở về tay trắng. Người TQ cũng có cách nói "phú bất quá tam đại", giàu khó qua ba đời. Đời thứ nhất thường biết tạo ra. Đời thứ hai chứng kiến cha mẹ tạo dựng nên còn hiểu phần nào giá trị của những gì mình nhận được. Đến đời thứ ba, tài sản đã trở thành một phần tự nhiên của thế giới từ khi sinh ra. Ông nội nhìn căn nhà và nhớ những năm tháng dành dụm để mua nó. Người cháu nhìn căn nhà ấy và chỉ nghĩ là "nhà mình" :-).
Và câu chuyện của một đất nước cũng tương tự như vậy. Ở nhiều quốc gia hôm nay, trong đó có nước Mỹ, những thế hệ sinh ra trong thời kỳ tương đối ổn định và thịnh vượng đôi khi dễ quên mất những gian khó, hy sinh và cái giá mà các thế hệ đi trước đã phải trả để gây dựng nên những gì mình đang thừa hưởng.
Nước Mỹ vốn là một đất nước được hình thành và phát triển qua nhiều làn sóng di dân, bên cạnh những cộng đồng bản địa đã có mặt từ trước. Phần lớn các gia đình Mỹ hôm nay, nếu lùi lại vài thế hệ, đều có thể tìm thấy một ông bà, cha mẹ hay tổ tiên từng từ một vùng đất khác tìm đến đây. Họ mang theo những hoàn cảnh, văn hóa và niềm tin khác nhau, nhưng nhiều người cùng chia sẻ khát vọng tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một phần sức mạnh của nước Mỹ cũng được gây dựng từ chính tinh thần ấy, lao động, khai phá, thích nghi, đoàn kết, kiến tạo và không ngừng tranh đấu để những giá trị như tự do, cơ hội và bình đẳng ngày càng được mở rộng hơn.
Tuy nhiên, thế hệ sinh ra khi những thành quả ấy đã có sẵn lại dễ nhìn thế giới bằng một cách khác. Cũng giống như người cháu sinh ra trong căn nhà ông nội xây, lâu ngày có thể tưởng rằng căn nhà vốn dĩ đã ở đó, một người sinh ra trong một quốc gia giàu mạnh cũng dễ xem sự thịnh vượng, tự do, cơ hội hay vị thế của đất nước mình như những điều đương nhiên, và rồi mặc nhiên tin rằng chúng sẽ tồn tại mãi mãi. Thậm chí đôi khi người ta tự xem mình là "người chính gốc", rồi phân chia ai thuộc về đất nước này nhiều hơn ai; khác biệt màu da, nguồn gốc, tôn giáo hay quan điểm lại trở thành những lằn ranh để kỳ thị, chia rẽ, tự tôn và đối đầu, như thể những câu chuyện về di dân, phân biệt chủng tộc và cuộc đấu tranh lâu dài cho quyền bình đẳng chưa từng nằm ngay trong những trang sử của chính đất nước mà mình đang là công dân. Một số ít người cũng chưa hiểu hết đất nước của thế hệ cha ông họ đã "vĩ đại" như thế nào !
Nói đến đây, mình bỗng nhớ đến một câu chuyện mà mấy năm trước mình rất băn khoăn, mặc dù mình không thuộc về một đảng phái chính trị nào. Cuối thập niên 1970, trước cuộc khủng hoảng người tị nạn Đông Nam Á, đặc biệt là làn sóng "thuyền nhân" VN, tổng thống Jimmy Carter đã có những quyết định nhân đạo quan trọng. Năm 1979, khi hàng trăm nghìn người phải vượt biển và nhiều người bỏ mạng trên đường đi, chính quyền Carter đã chỉ thị lực lượng Hải quân Hoa Kỳ cứu giúp những người tị nạn gặp nạn trên biển. Ông được nhắc đến với câu nói đầy tính nhân đạo "I cannot let your people die" (tạm dịch: Tôi không thể để người dân của các bạn chết).
Bất chấp sự phản đối khá lớn trong dư luận Mỹ lúc bấy giờ, Carter quyết định tăng gấp đôi số người tị nạn Đông Nam Á được tiếp nhận mỗi tháng, từ 7.000 lên 14.000 người. Chính quyền của ông đồng thời vận động các quốc gia Đông Nam Á tạm thời mở cửa tiếp nhận người tị nạn, tăng viện trợ nhân đạo và hỗ trợ những chương trình giúp người VN có thể ra đi bằng con đường an toàn, hợp pháp thay vì phải liều mạng vượt biển. Di sản quan trọng nhất có lẽ là việc Carter ký "Đạo luật Người tị nạn" năm 1980 (Refugee Act of 1980), tạo nên một hệ thống pháp lý lâu dài cho việc tiếp nhận và tái định cư người tị nạn tại HK, đồng thời thành lập cơ chế hỗ trợ họ hòa nhập vào đời sống mới. Riêng năm 1980, HK đã tiếp nhận hơn 207.000 người tị nạn. Những quyết định của Carter trong giai đoạn này không chỉ là chính sách đối ngoại hay di trú, mà còn thể hiện một lựa chọn khá đặc biệt, giữa áp lực chính trị trong nước và sinh mạng của những con người đang gặp nạn, ông đã chọn đặt giá trị nhân đạo lên hàng đầu!
Thế nhưng không lâu sau đó, tổng thống Carter lại bị chính thế hệ thừa hưởng kế tiếp và thậm chí những người từng trực tiếp hưởng lợi từ di sản của ông lên án, chỉ đơn giản vì ông thuộc đảng phái chính trị khác với họ !
Có lẽ đó cũng là một nghịch lý của thế hệ thừa hưởng, hưởng được thành quả của người đi trước thì tương đối dễ; nhưng để hiểu được những điều kiện, hy sinh và bài học đã tạo nên thành quả ấy lại khó hơn nhiều. Một quốc gia cũng giống một gia đình ở điểm đó. Nếu thế hệ sau chỉ thừa hưởng sự giàu mạnh mà không thừa hưởng được tinh thần đã tạo nên sự giàu mạnh, thì chính thành công của thế hệ trước đôi khi lại trở thành chiếc gối êm để thế hệ sau ngủ quên. Và lịch sử vốn chẳng hứa với dân tộc nào rằng chiếc gối ấy sẽ êm ấm mãi mãi.
Thực ra, có những giá trị từng làm một xã hội mạnh lên cũng có thể suy yếu nếu như người thừa hưởng chỉ biết tiêu dùng thành quả mà không còn hiểu những điều kiện đã tạo ra thành quả ấy. Có khi, sự thành công đã mang sẵn hạt giống của sự thất bại. Đây mới là nghịch lý đáng lưu ý !
Và nói đến đây lại trở về với "vô thường". Hiểu vô thường không phải là ngồi chờ mọi thứ suy tàn. Ngược lại, chính vì biết không có gì tự tồn tại mãi mãi nên càng phải chăm sóc những nhân duyên làm cho điều tốt đẹp tiếp tục tồn tại. Của cải không tự giữ được của cải. Quyền lực không tự giữ được quyền lực. Một nền văn minh cũng không tự bảo vệ được nền văn minh. Mỗi thế hệ đều phải học lại, theo cách của mình, vì sao những gì mình đang có đáng được gìn giữ, và phải tạo thêm điều gì để trao cho người đến sau. Có lẽ vậy !
Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa nhìn phú quý mà bảo "tựa chiêm bao". Nghĩ rộng ra, có lẽ không chỉ phú quý của một đời người. Sự hưng thịnh của một gia đình, một dòng họ, một triều đại, thậm chí một quốc gia, nhìn trong chiều dài lịch sử, cũng có phần như vậy. Lúc đang ở trong giấc mộng thì thấy cái gì cũng lớn lao, chắc chắn; tỉnh ra rồi mới biết bao nhiêu thứ từng tưởng là "của mình" hóa ra chỉ tạm thời đi ngang qua đời mình:
Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
Trong nhà Phật cũng có một câu nói rất đơn giản "Chư hành vô thường" (nghĩa là : Các hành đều vô thường). Nhà cửa vô thường. Tài sản vô thường. Dòng họ vô thường. Triều đại vô thường. Quốc gia và những trật tự chính trị tưởng như vững như bàn thạch cũng vô thường. Nhưng vô thường không có nghĩa là ngày mai tất cả phải sụp đổ. Nó chỉ nhắc rằng cái đang tồn tại hôm nay cũng phải nương vào những điều kiện để tồn tại; khi điều kiện thay đổi, kết quả cũng thay đổi theo.
Mở ngoặc chút, mấy hôm nay nước Mỹ rất xôn xao vì kỳ bầu cử giữa kỳ 2026. Thực ra, bầu cử giữa kỳ chủ yếu là bầu lại một số vị trí ở quốc hội thôi. Lâu nay chuyện đó cũng bình thường và cũng không phải là sự kiện gì ghê gớm lắm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi sự hơn thua đảng phái dường như chi phối quá nhiều đến tiếng nói chung của đất nước, vai trò của sự kiện bầu bán bỗng trở nên đặc biệt quan trọng. Ngay cả vị tổng thống nước Mỹ cũng tuyên bố nếu phe CH thắng thì ông sẽ phát cho mỗi người dân (trưởng thành) 5 ngàn đô xài chơi. Vụ hứa cho tiền này thì dân Mỹ và cả thế giới cũng nghe qua vài lần rồi. Tuy nhiên, mình chỉ hơi thắc mắc là liệu một lá phiếu trung thực để bầu ra người xứng đáng đại diện cho dân cho nước mà có thể mua được bằng tiền thì còn có thể là một lá phiếu tin cậy hay chăng ?
Tất nhiên, ở quốc gia nào cũng vậy chứ không phải chỉ có nước Mỹ, một quá khứ huy hoàng luôn rất đáng trân trọng, nhưng quá khứ không thể sống thay cho hiện tại. Một đất nước cũng không thể dùng hào quang của tổ tiên để trả hóa đơn cho tương lai. Cho nên, có lẽ gia tài quý nhất mà một thế hệ có thể để lại không phải là một căn nhà thật lớn, hay một sự tự tôn tuyệt đối, mà là những con người đủ khả năng xây lại căn nhà ấy nếu một ngày nó không còn nữa. Cũng không phải là lời hứa suông rằng, những gì chúng ta có hôm nay sẽ còn mãi mãi, mà là một trí tuệ để hiểu rằng những gì chúng ta có hôm nay rồi sẽ thay đổi. Vì vậy, hãy biết trân trọng, gìn giữ, sửa chữa, và chuẩn bị cho sự thay đổi ấy !
Các cụ ngày xưa chỉ cần một câu: "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". PG gọi đó là vô thường. Lịch sử gọi đó là vận nước thịnh suy. Còn kinh tế học có thể gọi bằng những cái tên gì gì đó phức tạp hơn. Nhưng đời thường có lẽ chỉ cần hiểu - hôm nay đang lên thì đừng tưởng mình sẽ lên mãi, hôm nay đang xuống cũng đừng tưởng mình sẽ xuống mãi. Bởi trong một thế giới luôn thay đổi, điều khôn ngoan không phải là tìm cách giữ mọi thứ đứng yên. Mà là biết mình đang ở đâu trong sự thay đổi ấy, và nên gieo trồng những "nhân" nào cho "quả" của tương lai !
Thôi, dài dòng quá rồi . Xin dừng, chúc quý anh chị bằng hữu ngày chủ nhật an vui hạnh phúc .
PN
.jpg)


.jpg)



