Monday, August 24, 2026

Phiếm: Dùng người ...:-)


Mấy tháng qua, thiên hạ râm ran tranh luận khá nhiều về câu chuyện “dùng người” trong xã hội ngày nay. Tất nhiên, đề tài này thì nói bao giờ cho hết. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, chuyện nhìn người, chọn người và dùng người vẫn luôn là một phần quan trọng của việc trị quốc, an dân.

Gần đây, khi nhiều cuộc xung đột và chiến tranh xảy ra trên thế giới, điểm mạnh, điểm yếu của từng quốc gia, từng vị nguyên thủ, rồi cả các "quân sư quạt mo", thượng thư bộ nọ bộ kia… cũng phần nào bộc lộ rõ hơn. Bởi vậy, chuyện "dùng người" không chỉ là chuyện trị dân, trị nước trong thời bình, mà còn thể hiện ở khả năng ứng phó với khủng hoảng, hóa giải mâu thuẫn và đôi khi quyết định cả thành bại trong chiến tranh, an ninh khu vực lẫn cục diện thế giới. Thành ra, hai chữ "dùng người" lại càng trở thành đề tài nóng hổi, khiến thiên hạ bàn tới bàn lui mãi không thôi :-).

Nghĩ cho cùng, thời buổi này truyền thông và mạng xã hội lúc nào lại chẳng khao khát đề tài ? Không có chuyện giật gân này thì lại có chuyện xung đột, chém giết hay xì-căng-đan khác. Chuyện đời thì cứ đến rồi đi, chẳng có gì thường hằng, nên nhớ quên, trúng trật, thêm bớt đôi chút cũng là chuyện thường tình.

Ngẫm lại, cái tâm con người đôi khi cũng giống như chiếc TV đời cũ, mỗi ngày trình chiếu không biết bao nhiêu bộ phim. Phim buồn thì khóc, phim vui thì cười, phim ma thì sợ... Có khi phim hay, tình tiết hấp dẫn, ta nhập vai sâu quá đến nỗi quên mất mình chỉ đang xem phim, rồi cứ ngỡ những gì hiện trên màn ảnh là đời thật. Đến khi phim hết, chiếc TV lại trở về với chính nó, vẫn là cái màn hình ấy. Có người còn lưu luyến mãi chút dư âm, có người thoáng chốc đã quên. Rồi ngày mai, màn hình lại sáng lên, và những bộ phim khác lại bắt đầu…!

Hôm nay rảnh rang, xin phiếm bàn đôi chút về  một vài câu chuyện dùng người ngày xưa. Viết cho vui, đọc cũng cho vui thôi. Lan man chuyện xưa chuyện nay, coi như một chút "ôn cố tri tân" vậy :-)

Mỗi lần đọc lại lịch sử, ta thường nhớ đến những vị vua anh minh, những danh tướng hay những bậc anh hùng làm nên một thời đại. Nhưng phía sau mỗi tên tuổi lớn, thường có rất nhiều con người khác ít được nhắc đến. Những mưu sĩ, tướng lĩnh, quan lại, học giả và đôi khi cả những con người xuất thân rất bình thường mà tài năng của họ được nhận ra và được đặt vào đúng chỗ. Bởi vậy, khi nghĩ về chuyện hưng vong của một quốc gia, có lẽ không thể không nghĩ đến hai chữ "dùng người".

Tất nhiên, vai trò của người lãnh đạo bao giờ cũng vô cùng quan trọng, nhưng người đứng đầu chưa chắc phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực. Có khi tài năng lớn nhất của họ lại nằm ở chỗ biết mình không thể làm được tất cả; biết tìm người làm được những điều mình không làm được; biết đặt họ vào đúng chỗ; và quan trọng hơn, đủ bản lĩnh để tin dùng người tài mà không đòi hỏi người ấy phải giống mình.

Có những chuyện xưa mà chưa bao giờ cũ. Thử điểm lại vài điển tích… từ chuyện người cho đến chuyện ta !

Khương Tử Nha, cụ già câu cá chờ thời.

Một cụ già ngoài bảy mươi kiên nhẫn ngồi câu cá chờ minh quân, chờ thời cơ phụng sự - Khương Thượng Lã Vọng. (Nhớ lưu ý là không phải ông chủ quán chả cá Lã Vọng ăn với bún, rau thì là, và mắm tôm nghen :-)).

Trong ký ức văn hóa phương Đông, hình ảnh Khương Tử Nha ngồi câu bên sông Vị đã trở thành một điển tích đẹp về cuộc gặp gỡ giữa người hiền tài và người biết nhận ra hiền tài. Ông đã cao tuổi mà vẫn thản nhiên chờ đợi mỗi ngày. Còn bây giờ, bạn bè mình có người chưa tới tuổi về hưu mà đã than  thở già nua rồi :-).

Rồi cuối cùng Khương Tử Nha gặp được Cơ Xương Tây Bá Hầu, người sau này được tôn là Chu Văn Vương. Khương Tử Nha trở thành vị khai quốc công thần vĩ đại nhất của triều Chu, góp phần đặt nền móng cho sự nghiệp của một vương triều tồn tại hơn tám thế kỷ.

Bỏ qua những lớp huyền thoại được bồi đắp qua hàng nghìn năm, điều làm câu chuyện ấy sống mãi có lẽ không nằm ở chiếc cần câu, mà ở cuộc gặp gỡ giữa một người có tài và một người có khả năng nhận ra tài năng ấy.

Người tài có thể chờ minh chủ. Nhưng minh chủ cũng phải có con mắt nhận ra người tài. Bởi tài năng không phải lúc nào cũng xuất hiện với một "lý lịch tốt", một xuất thân thuận lợi, hay trong hình hài tai to mặt lớn, mũi lân mép rồng, tai trâu lưng rùa, như phong thủy tướng số mong đợi. Nếu người lãnh đạo chỉ tìm những người cùng quá khứ, cùng quan hệ, cùng làng, cùng đảng, dân chủ, cộng hòa, hay ma-ga ma-giếc gì đó, hoặc cùng cách nghĩ và chỉ nói theo những gì mình muốn nghe, thì rất có thể là người tài vẫn còn ở đó, nhưng chẳng bao giờ bước qua nổi… cái vòng gửi xe :-).

Câu chuyện thứ hai là Tề Hoàn Công và Quản Trọng, từ đối nghịch đến trị quốc.

Nếu chuyện Khương Tử Nha nói về khả năng nhận ra người tài, thì chuyện Tề Hoàn Công trọng dụng Quản Trọng lại đặt ra một câu hỏi khó hơn - Liệu ta có thể dùng một người từng đứng ở phía đối nghịch với mình hay không?

Quản Trọng vốn phò Công tử Củ, đối thủ của Công tử Tiểu Bạch, người sau này trở thành Tề Hoàn Công. Trong cuộc tranh giành quyền lực, theo sử truyện, Quản Trọng từng bắn tên vào Tiểu Bạch và suýt lấy mạng ông. Nếu xét theo tư thù theo kiểu "nợ máu", thì Quản Trọng rõ ràng là người đích thân bắn nhà vua. Nếu xét theo "lý lịch", thì ông cũng chẳng thuộc về bên thắng cuộc, mà là người của "thế lực thù địch".

Nhưng Bào Thúc Nha hiểu tài Quản Trọng và tiến cử ông. Điều đáng nói hơn là Tề Hoàn Công có thể bước qua hiềm khích cá nhân và thành kiến ta–địch để trọng dụng một người từng đứng ở phía đối nghịch. Quản Trọng sau đó trở thành nhân vật trung tâm trong những cải cách giúp nước Tề hùng mạnh; Tề Hoàn Công trở thành một trong những bá chủ nổi tiếng thời Xuân Thu.

Hơn hai nghìn năm sau, câu chuyện ấy vẫn đáng để suy nghĩ.

Bởi nếu ngày đó Tề Hoàn Công chỉ hỏi "Người này trước đây thuộc phe nào?", thì có lẽ đã không có một Quản Trọng của nước Tề. Nhưng ông đã đặt được một câu hỏi lớn hơn- "Người này có thể làm gì cho nước Tề?"

Khoảng cách giữa hai câu hỏi ấy có lẽ cũng chính là khoảng cách giữa tư duy phe phái địch-ta, và tư duy trị quốc vì quốc gia và dân tộc. Và cũng chính khoảng cách đó đã làm nên lịch sử vĩ đại của một thể chế. 

Trong lịch sử nước ta cũng không hiếm những câu chuyện như thế. Ở đây mình chỉ nhắc đến hai nhân vật mà mình đặc biệt kính trọng, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi. Cách họ nhìn người, dùng người và đặt đại cuộc lên trên cái riêng vẫn để lại nhiều điều đáng suy ngẫm cho hậu thế.

Trần Hưng Đạo, dùng người vì đại cuộc.

Nhắc đến những cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, người ta nhớ đến Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nhưng phía sau một tên tuổi lớn đó là cả một tập hợp những con người rất khác nhau và một nghệ thuật dùng người trong sáng vì quốc gia, dân tộc.

Chuyện ông gạt bỏ hiềm khích để cùng Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, chung lo việc nước; trọng dụng những người có tài xuất thân bần hàn như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… cho thấy một khả năng đáng nể trong việc quy tụ con người quanh đại cuộc.

Ngoài lề chút. Có lần mình hỏi một người quen có biết “Ngũ Hổ Tướng” ngày xưa không. Anh ta trả lời vanh vách Trương Phi, Quan Công, Triệu Tử Long, Mã Siêu, Hoàng Trung. Nhưng hỏi đến Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành… thì anh lắc đầu, chưa nghe bao giờ. Riêng vụ này chắc phải cảm ơn các anh nhà đài và phim bộ VH lịch sử đã có công trình chiếu từ nhiều năm nay :-)!

Những con người quanh Hưng Đạo Vương không giống nhau về xuất thân, địa vị hay tính cách. Có người từ chốn dân gian bước lên hàng danh tướng; có người từng trải qua những thăng trầm, lỗi lầm nhất thời như Trần Khánh Dư, nhưng vẫn được trao cơ hội khi đất nước cần đến tài năng của họ.

Đứng trước hiểm họa chung, câu hỏi quan trọng nhất không còn là "Anh sinh ra trong gia đình nào? Anh thuộc phe nào? Anh có hoàn toàn giống ta trong mọi suy nghĩ hay không?" Mà là "Anh có tài gì, và tài ấy giúp được gì cho việc nước?". 

Có lẽ đó là một nguyên tắc căn bản của nghệ thuật dùng người — không tìm một con người hoàn hảo, bởi trên đời vốn chẳng ai hoàn hảo, mà biết sở trường của từng người, đặt họ vào đúng chỗ và để tài năng ấy phục vụ một mục đích lớn hơn chính họ.

Nhiều người cho rằng trên thế giới hiện nay có nhiều chính phủ chỉ tập trung sử dụng những con người trung thành với lãnh đạo, hoặc lợi ích đảng phái mà thôi . Câu hỏi đặt ra là: trung thành với ai ? Và "trung thành" có phải là tiêu chuẩn cần thiết của việc dùng người không?

Tất nhiên, trong mọi tổ chức và mọi quốc gia, lòng trung thành và sự đáng tin cậy đều có giá trị. Không ai có thể làm việc lớn với những người hoàn toàn không đáng tin. Nhưng vấn đề trở nên phức tạp khi ta hỏi:

Trung thành với ai?

Với một cá nhân? Một phe phái? Một nhóm lợi ích? Hay trung thành với trách nhiệm, pháp luật, nhân dân và lợi ích lâu dài của đất nước?

Những điều ấy đôi khi đi cùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Một người luôn nói "dạ vâng" có thể rất trung thành với cấp trên, nhưng chưa chắc đã trung thành đối với công việc chung, hay đối với đất nước. Ngược lại, một người dám nói "không" có thể khiến người lãnh đạo khó chịu, nhưng đôi khi chính họ đang cố ngăn một quyết định có hại cho đất nước. Và một người từng thuộc một phía khác, có quá khứ hay xuất thân khác, chưa chắc vì thế mà lòng yêu nước của họ ít hơn bất cứ ai.

Có lẽ vì vậy, một nền trị quốc khôn ngoan phải biết phân biệt lòng trung thành với một con người, và lòng trung thành với những điều lớn hơn con người. Điều đáng suy nghĩ là khi việc lựa chọn con người đã không còn bắt đầu bằng câu hỏi "người này có khả năng gì?", mà bằng những câu hỏi về đảng phái, lý lịch gia đình, nguồn gốc, quan hệ, phe nhóm hay những định kiến được truyền lại từ quá khứ.

Trong xã hội ngày nay, đôi khi người ta vẫn bắt gặp cách dùng người dựa trên lợi ích nhóm, quan hệ, lý lịch, đảng phái và lòng trung thành nhiều hơn tài năng. Ngay cả những đất nước văn minh dân chủ như Hoa Kỳ, trong những năm gần đây, người ta vẫn nhận thấy hiện tượng này từ các vị trí chủ chốt được bổ nhiệm hoặc trong các lần ủng hộ bầu bán.

Dĩ nhiên, đối với những vị trí quan trọng, nhân cách, quá trình sống, sự đáng tin cậy và tinh thần trách nhiệm đều cần được xem xét. Nhưng nếu lý lịch gia đình hay sự gần gũi với một phe nhóm trở thành thước đo thay thế cho năng lực và phẩm chất cá nhân, xã hội rất dễ đánh mất người tài chỉ vì họ không sinh ra từ "đúng" hoàn cảnh.

Không ai được lựa chọn cha mẹ mình. Cũng không ai được lựa chọn mình sinh ra ở phía nào của một biến cố lịch sử. Và không nên bắt một thế hệ mãi mang trên vai những phán xét dành cho thế hệ trước. Nếu một xã hội cứ phân loại con người bằng quá khứ của gia đình họ thay vì tài năng, nhân cách và những gì chính họ đang đóng góp, những đường ranh lịch sử sẽ rất khó thực sự khép lại.

Khi ấy, điều mất đi không chỉ là cơ hội của một vài cá nhân, mà quốc gia cũng tự làm nghèo nguồn nhân lực của chính mình.

Thực tế, có một cách nói rất quen, đó là "người của mình". Trong đời sống riêng, chẳng có gì đáng nói. Nhưng khi bước vào việc công, bốn chữ ấy có thể trở nên nguy hiểm nếu chúng trở thành tiêu chuẩn lựa chọn con người. Bởi một quốc gia không thể được xây dựng chỉ bằng "người của tôi", "người của anh", "người phe này" hay "người phe kia".

Mà điều cần tìm phải là "Người của việc." !

Khoảng cách từ "người của ta" đến "người của việc" đôi khi có thể làm thay đổi vận mệnh một đất nước.

"Người của việc" là người có khả năng làm được công việc ấy, hiểu trách nhiệm của vị trí ấy, dám nhận trách nhiệm khi mình sai; và quan trọng hơn, hiểu rằng quyền lực được trao cho mình không phải để phục vụ người đã bổ nhiệm mình, mà để thực hiện trách nhiệm mà chức vụ ấy đại diện.

Khi "người của mình" được đặt trên "người của việc", bè phái rất dễ hình thành. Mà bè phái một khi hình thành thì lòng trung thành cũng dần thay đổi đối tượng. Người ta không còn bảo vệ nguyên tắc mà bảo vệ lẫn nhau; không còn hỏi điều gì đúng mà bắt đầu hỏi điều gì có lợi cho nhóm mình. Khi ấy, người tài nhưng không thuộc phe sẽ đứng ngoài. Người có ý kiến khác sẽ dần im lặng. Người biết nói những điều cấp trên muốn nghe lại dễ tiến lên !

Và nguy hiểm hơn cả, cuối cùng người đứng đầu chỉ còn nghe tiếng nói của chính mình vọng lại từ những người chung quanh.

Vậy thì người lãnh đạo có cần người bất đồng với mình không ? Có lẽ là có. Mình thì nghĩ là rất cần. Thậm chí, quyền lực càng lớn thì càng cần!

Người xưa có khái niệm "can gián" bởi họ hiểu một điều rất đơn giản, người đứng đầu cũng là con người, mà đã là con người thì ai cũng có thể sai. Ngay cả những nhân vật được thiên hạ gán ghép là "gian hùng" như Tào Tháo, lúc nào cũng có vài quân sư chuyên can gián. Thế mà thời nay, nhiều ông trùm đứa nào đứng ra can gián, ngày mai đuổi việc, hoặc kêu lính điều tra bắt bớ, thì còn ai dám can gián nữa ? :-)

Thực ra, quyền lực không làm cho một người bớt sai. Đôi khi nó chỉ khiến người khác khó nói cho người ấy biết rằng họ đang sai. Bởi vậy, một người lãnh đạo có mười người luôn đồng ý với mình chưa chắc may mắn bằng người có bên cạnh một người đủ trung thực để nói - "Việc này không nên làm!"

Nhưng giữ được một người như thế bên cạnh lại đòi hỏi một thứ bản lĩnh khác mà không phải người lãnh đạo nào cũng có. Đó là khả năng chịu đựng sự bất đồng, và khả năng đối diện với lỗi lầm của bản thân.

Người thiếu tự tin thường xem phản biện là thách thức đối với quyền lực. Người có bản lĩnh lại có thể xem nó như hàng rào bảo vệ mình khỏi những sai lầm của chính mình. Vì vậy, đôi khi người trung thành nhất không phải là người luôn đứng sau ta dạ bẩm, mà là người dám đứng trước mặt ta và nói điều ta không muốn nghe, khi họ tin điều ấy cần thiết cho việc chung.

Mình thường nói đùa ông nào làm vua, làm tổng thống mà chung quanh toàn nịnh thần thì thật ra là kém may mắn chứ sướng ích gì !

Mà nói đến chuyện "dùng người, giữ người", có lẽ khó bỏ qua một nhân vật lịch sử mà mình rất kính trọng, Nguyễn Trãi. Một con người tài năng, công trạng lớn lao, yêu dân thương nước, nhưng lại phải trải qua quá nhiều nghiệt ngã, đắng cay!

Nếu Lê Lợi là người tập hợp lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh, thì Nguyễn Trãi đem đến cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn một sức mạnh khác, sức mạnh của trí tuệ, ngôn từ, chiến lược và trên hết là một tư tưởng về ý nghĩa của việc giành lại đất nước.

Ngay đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết - "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân."

Chỉ mấy chữ ấy thôi mà dường như đã đặt ra một câu hỏi căn bản cho mọi việc trị quốc: Quyền lực cuối cùng thực sự để làm gì?

Nếu chiến thắng chỉ để thay một người cầm quyền bằng một người cầm quyền khác thì dân chúng được gì? Nếu giành được thiên hạ mà dân vẫn khổ, xã hội vẫn bất an, người có tài không được trọng dụng, người nói thật không được lắng nghe, thì thành công của người trị quốc rốt cuộc có ý nghĩa bao nhiêu?

Bởi vậy, hai chữ "yên dân" có lẽ là một trong những thước đo cao nhất của thuật dùng người. Dùng người không chỉ để thắng một cuộc chiến, xây dựng quyền lực hay tạo nên một đội ngũ tuyệt đối trung thành với người đứng đầu, hoặc ban bố một danh xưng địa vị nào đó. Mà dùng người, cuối cùng, là để làm được việc có ích cho dân, cho nước.

Nhìn từ đó, mối quan hệ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi càng đáng suy ngẫm. Một người có sức mạnh tập hợp và lãnh đạo; một người có trí tuệ chiến lược và khả năng đem lại nền tảng tư tưởng cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

Có lẽ những thời khắc đẹp nhất của lịch sử thường xuất hiện khi quyền lực biết tìm đến trí tuệ, và trí tuệ có cơ hội phụng sự một mục đích lớn hơn cái tôi, cái "ngã" của chính mình !

Nhưng cuộc đời Nguyễn Trãi cũng để lại một câu hỏi buồn hơn về số phận người hiền tài. Sau khi đại cuộc thành công, cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm chốn quan trường. Lê Lợi mất năm 1433. Chín năm sau, dưới triều Lê Thái Tông, vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 khiến Nguyễn Trãi cùng nhiều người trong gia tộc chịu một bản án thảm khốc. Mãi đến năm 1464, dưới triều Lê Thánh Tông, ông mới được minh oan.

Đọc đến đây, người đời sau khó tránh khỏi ngậm ngùi. Một con người từng đem tài năng, trí tuệ và cuộc đời mình góp phần dựng nên một triều đại, cuối cùng lại trở thành nạn nhân của những biến động quyền lực trong chính triều đại ấy. Mình thì ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng PG, nên luôn quan niệm rằng không có bùn sẽ không có sen. Nghịch cảnh chính là môi trường tốt nhất cho những đóa sen cao quý nhất !

Và cũng chính từ bi kịch đó, câu chuyện “dùng người” dường như cần thêm hai chữ: "giữ người". 

Tìm được người tài đã khó. Dùng được người tài càng khó. Nhưng tạo được một môi trường để người tài có thể sống, làm việc, nói thật và phụng sự lâu dài mà không phải luôn lo sợ trước nghi kỵ, đấu đá giữa các biến động quyền lực, thì có lẽ còn khó hơn nhiều lần so với việc kêu gọi người tài.

Một quốc gia không thể chỉ cần người tài khi lâm nguy rồi để họ trở nên lạc lõng lúc thái bình.

Trong chiến tranh, người lãnh đạo thường dễ nhìn thấy giá trị của người tài, bởi phía trước có một kẻ thù chung, mục tiêu sống còn rõ ràng và mọi tài năng đều cần được huy động. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, một thử thách khác bắt đầu.

Không còn kẻ thù bên ngoài, con người rất dễ quay sang tranh giành quyền lực với nhau. Không còn mục tiêu sinh tử chung, những khác biệt về quan điểm, xuất thân, phe nhóm và quyền lợi lại có thể trở nên lớn hơn. Và đôi khi, chính trong thời bình, cái tâm và cái tầm của người trị quốc mới thực sự bị thử thách !

Thiết nghĩ, nếu "thuật dùng người" chỉ được hiểu như một kỹ năng quản trị thì vẫn còn quá hẹp. Phía sau nó phải có cái tâm và cái tầm. Có tầm, người lãnh đạo mới nhận ra đất nước rộng hơn phe phái của mình, tương lai dài hơn một nhiệm kỳ hay một đời người, và người có tài không nhất thiết phải giống mình.

Có tâm, người lãnh đạo mới có thể vượt qua yêu ghét cá nhân, định kiến về xuất thân và những vết thương quá khứ để nhìn một con người bằng chính năng lực, nhân cách và những gì họ có thể đóng góp cho việc chung.

Có tầm mà thiếu tâm, người tài có thể chỉ trở thành công cụ của quyền lực. Có tâm mà thiếu tầm, thiện ý đôi khi cũng chưa đủ để trị quốc. 


Nhiều nhà nghiên cứu, học giả cho rằng tư tưởng của Nguyễn Trãi "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" là nơi thuật dùng người gặp đạo trị quốc. 

Người tài không sinh ra để làm đẹp cho triều đình, tô điểm thành tích của người cầm quyền hay chứng minh sự sáng suốt của một vị minh chủ. Người tài được trọng dụng, suy cho cùng, là để tài năng ấy trở thành điều có ích cho xã hội. Và quyền lực, nếu cần một lý do chính đáng để tồn tại, thì lý do cuối cùng có lẽ cũng không nằm ở chính quyền lực. Nó nằm ở những con người mà quyền lực ấy có trách nhiệm phụng sự.

Nhưng chiêm nghiệm một cách rốt ráo, thì thực ra dùng người, cuối cùng cũng chính là dùng lòng mình! Bởi tâm của mỗi người là tấm gương phản chiếu tư duy và các ứng xử bên ngoài của họ.

Cho dù Đông hay Tây, cổ hay kim, chuyện dùng người cuối cùng vẫn quay về chính bản thân người lãnh đạo. Một ông vua, bà chúa dù tài cán đến đâu, một tổng thống hay lãnh đạo dù có là "thiên sứ nhà trời sai xuống", mà không biết nhìn người, dùng người và giữ người, thì sớm muộn cũng khó tránh khỏi rối ren, thậm chí tan hoang. Lịch sử nhân loại hàng nghìn năm đã cho thấy điều ấy. Có nhờ may mắn, "long mạch", phong thủy gì đó mà kéo dài thêm được đôi chút thì cũng chỉ là gượng gạo, cuối cùng khổ mình, khổ người :-).

Bởi vậy, nghệ thuật dùng người không chỉ nằm ở khả năng đánh giá người khác, mà còn là phép thử đối với chính cái tâm, cái tầm và bản lĩnh của người cầm quyền.

Muốn dùng được người khác mình, phải vượt qua thành kiến.

Muốn trọng dụng người từng bất đồng với mình, phải vượt qua tự ái.

Muốn trao quyền cho người giỏi, phải vượt qua nỗi sợ bị lu mờ.

Muốn nghe lời trái ý, phải vượt qua nhu cầu luôn được xác nhận, ca tụng rằng mình đúng.

Và muốn đặt lợi ích đất nước lên trên phe phái, đôi khi phải đủ can đảm để đặt quyền lợi của chính phe mình xuống phía sau.

Bởi thế, cái khó của dùng người có khi không nằm ở chỗ thiên hạ có người tài hay không. Người tài thời nào cũng có. Cái khó là người cầm quyền có nhận ra họ không, có dung được họ không, có dám giao việc cho họ không, và có chấp nhận rằng họ không nhất thiết phải trở thành "người của mình" hay không ?

Khương Tử Nha gặp Cơ Xương. Quản Trọng gặp Tề Hoàn Công. Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… mà gặp thời đại hôm nay cũng chưa chắc có thể làm nên được điều gì. Không ai bảo đảm được điều đó cả. Đó gọi là duyên khởi, duyên sinh !

Ngày nay, một quốc gia hiện đại tất nhiên không thể chỉ trông chờ vào vài "minh quân" hay "hiền thần". Xã hội cần luật pháp, thể chế minh bạch, cơ chế tuyển chọn công bằng và trách nhiệm giải trình để việc dùng người không phụ thuộc hoàn toàn vào sự sáng suốt hay yêu ghét của bất kỳ cá nhân nào.

Nhưng bài học của người xưa có lẽ vẫn còn nguyên giá trị. Một đất nước mạnh không phải là đất nước mà mọi người đều suy nghĩ giống nhau. Cũng không phải nơi những người giữ trọng trách đều có cùng xuất thân, cùng lý lịch hay cùng thuộc một phe. Sức mạnh của một quốc gia có lẽ nằm ở khả năng quy tụ những con người khác nhau quanh một việc chung, để khác biệt không trở thành lý do để loại trừ nhau, mà trở thành những nguồn trí tuệ bổ sung cho nhau.

Cuối cùng, người lãnh đạo giỏi không phải là người tạo ra thật nhiều người trung thành với mình, mà là người có khả năng quy tụ được thật nhiều người trung thành với trách nhiệm, với việc chung, với nhân dân, với đất nước và dân tộc.

Và có lẽ thước đo đẹp nhất của nghệ thuật dùng người vẫn nằm trong một câu hỏi rất giản dị:

Khi đứng trước một người có tài nhưng không thuộc về "phe mình", ta nhìn thấy quá khứ và sự khác biệt của họ trước, hay nhìn thấy điều họ có thể đóng góp cho tương lai của đất nước trước? Câu trả lời cho câu hỏi ấy ngày xưa có thể góp phần quyết định sự hưng vong của một triều đại. Ngày nay, nó vẫn nói lên rất nhiều điều về cái tâm, cái tầm và tầm vóc của một nền trị quốc.

Thôi, chỉ phiếm chút cho vui, chứ cũng chẳng có ý “chính chị, chính em” gì ở đây. Cũng sắp đến giờ đi hái rau nấu cơm rồi :-)

Tạm dừng. Thân chúc quý anh chị em, bằng hữu một tuần mới an vui, hạnh phúc!

PN

Sunday, August 16, 2026

Tản mạn .... Nhớ mà không giữ :-)

 



Hôm qua, mình giúp con gái "dọn nhà" vào ký túc xá.

Trời nắng nóng hơn 90°F. Dập dìu tài tử giai nhân, nhưng không phải cảnh trong phim, mà là những ông cha, bà mẹ tất bật khuân từng thùng sách, chiếc ghế, cái tủ cho con. Mồ hôi nhễ nhại, vậy mà ai cũng cười hớn hở :-)

Từ bãi đậu xe đến các tòa nhà ký túc xá, cứ một quãng ngắn lại có một bàn phát nước miễn phí. Những nhóm sinh viên khóa trên và các tình nguyện viên cũng có mặt khắp nơi để phụ khiêng hành lý. Đông vui như một ngày hội. Giữa cái nắng oi ả của mùa hè, tự nhiên thấy cuộc sống này vẫn còn rất nhiều điều tử tế.

Xong việc, ngồi đợi con dưới bóng cây trong khuôn viên trường. Những vạt cỏ xanh mướt, những chùm crape myrtle rực rỡ giữa mùa hạ, tiếng ve rỉ rích đâu đó… khiến lòng bỗng lặng xuống.

Thoáng chốc, đứa bé chập chững năm nào đã trở thành cô sinh viên đại học. Còn người cha thì dường như vẫn vậy, chỉ có mái tóc thêm nhiều sợi bạc :-). Vẫn lặng lẽ lái xe hàng trăm cây số, vẫn cặm cụi khuân từng thùng sách, chiếc bàn, cái tủ để giúp con bắt đầu một cuộc sống tự lập. Tay vẫn làm, nhưng trong lòng lại dâng lên một cảm giác nửa vui, nửa buồn ...

Vui vì con đã lớn, đã có đôi cánh để bước vào một chặng đường mới. Buồn vì từ hôm nay, ngôi nhà sẽ vơi đi một chút giận hờn, một đôi dép trước cửa, một tiếng gọi thân quen trong bữa cơm chiều.

Bất chợt nhớ đến ngày nhập học năm xưa.

Ngày ấy, cũng ở lứa tuổi này, nhưng thế hệ mình không được may mắn như con bây giờ. Một mình với chiếc túi vải trên vai, lặng lẽ bước lên chuyến tàu rời quê. Khi đoàn tàu chuyển bánh, còn ngoái đầu nhìn lại sân ga, như luyến tiếc một lời gọi muộn màng với theo, hay mơ hồ chờ đợi một cuộc tiễn đưa bất ngờ nào đó. :-)

Nhưng sân ga vẫn lặng im.

Chỉ có tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray.

Và có lẽ cũng từ những khoảnh khắc cô đơn như thế, những đứa trẻ ngày ấy đã học cách lớn lên và tự mình trưởng thành.

Nhìn lại, mỗi giai đoạn của đời người dường như đều để lại một dấu vết trong ký ức. Có những kỷ niệm ngọt ngào, nhưng cũng có những khoảng lặng chẳng thể gọi thành tên. Nhưng dù vui hay buồn, chúng vẫn theo ta như những trang nhật ký mà thời gian khó lòng xóa hết.

Nhưng càng đi nhiều, càng đọc nhiều và càng suy ngẫm, mình lại tự hỏi: Điều gì khiến ký ức có sức níu giữ con người đến vậy?

Trong PG, gọi đó là chấp thủ. Không phải ký ức tự nó làm ta khổ, mà chính cái “tôi” muốn giữ ký ức ấy nguyên vẹn mới khiến ta dính mắc.

Ta muốn giữ mãi tuổi thơ bé bỏng của con. Muốn giữ hình ảnh sân ga năm cũ. Muốn giữ những cái liếc mắt, những cái gật đầu e thẹn dưới hàng phượng vĩ ngày xưa. Muốn giữ cuốn lưu bút thập thò sau hàng cây long não…v.v. Muốn giữ cả những tháng năm đã đi qua, như thể thời gian chưa từng đổi thay !

Nhưng làm sao giữ được?

Mọi sự trên đời đều vô thường.

Con cái lớn lên. Cha mẹ già đi. Bạn bè xa cách. Con tàu năm xưa không còn nữa. Hàng phượng vĩ cũ cũng đã già, gãy gần hết. Bạn bè đứa còn, đứa mất...

Và ngay cả mình của ngày hôm qua cũng không còn hoàn toàn là mình của hôm nay. Thay đổi hàng phút, hàng giây, huống chi là hàng tháng, hàng năm.



Nhiều người cho rằng trưởng thành không phải là quên đi quá khứ, mà là học cách mỉm cười với nó. Nhớ, nhưng không để mình bị giữ lại. Yêu thương, nhưng không cố nắm giữ !

Mình rất đồng ý với quan niệm này.

Hôm nay, nhìn con bước vào một chặng đường mới của cuộc đời, chợt hiểu rằng điều đẹp nhất của ký ức không phải là cố giữ nó mãi mãi, mà là biết ơn vì mình đã từng được sống trong những tháng năm ấy.

Có lẽ nhiều cha mẹ cũng mong con mãi bé bỏng như ngày đầu biết gọi tiếng “ba”, tiếng “mẹ”. Nhưng đó chỉ là mong muốn của trái tim, không phải quy luật của cuộc sống. Con cái sinh ra không phải để thuộc về cha mẹ. Con chỉ mượn vòng tay cha mẹ làm nơi bắt đầu hành trình của mình. Rồi đến một ngày, con sẽ có con đường riêng để bước, những ước mơ riêng để theo đuổi, và cả những miền ký ức mới mà cha mẹ không còn hiện diện trong từng bước chân.

Người phương Tây có câu: "If you love somebody, let them go" (tạm dịch: nếu thật sự yêu thương một người, hãy biết để họ tự do bước đi). Nhưng trong văn hóa Việt Nam, tình cảm gia đình có phần khác. Cha mẹ và con cái thường gắn bó rất sâu, nhiều khi kéo dài suốt cả cuộc đời. Có gia đình có con đi đại học, cha mẹ tìm mua nhà gần trường để tiện chăm sóc. Có người khi khá giả lại xây một căn nhà thật lớn, mong con cháu cùng về sống chung, tam đại đồng đường, để gia đình lúc nào cũng đông vui :-).

Ngày trước, thậm chí còn có quan niệm sinh nhiều con để về già có người phụng dưỡng. Chữ "hiếu" vì thế đôi khi không chỉ là tình cảm, mà còn mang theo cả trách nhiệm và sự kỳ vọng giữa các thế hệ.

Tất nhiên, xã hội ngày nay đã khác. Những quan niệm ấy cũng dần thay đổi theo thời gian. Con cái có cuộc đời riêng, cha mẹ cũng bắt đầu học cách tôn trọng sự độc lập của con nhiều hơn.

Nhưng nghĩ cho cùng, có lẽ vấn đề không nằm ở chuyện sống gần hay sống xa, cũng không phải Đông hay Tây đúng hơn. Mà điều đáng suy ngẫm là ranh giới rất mong manh giữa yêu thương và nắm giữ.

Thương con không có nghĩa là phải giữ con bên mình. Và để con bước đi cũng không có nghĩa là thương con ít hơn. Có khi tình thương sâu sắc nhất lại nằm ở chỗ ta dành bao năm che chở nuôi nấng, rồi đến một ngày đủ bình thản để mở bàn tay ra và nói: "Con cứ đi đi. Hãy sống cuộc đời mà con lựa chọn !". Và có lẽ đó cũng là lúc tình thương bắt đầu vượt ra khỏi sự sở hữu, và trở thành một thứ tình cảm rộng lớn hơn.

Suy cho cùng, nếu tình yêu con cái chỉ được đo bằng sự nắm giữ, thì mọi cuộc chia tay đều trở thành mất mát. Nhưng nếu tình yêu đó được hiểu như là một sự nuôi dưỡng, chia sẻ, vun trồng để người mình thương có thể tự do lớn lên, thì mỗi lần buông tay cũng có thể là một lần hạnh phúc. Bởi vậy, có lẽ làm cha mẹ không phải là giữ con ở lại bên mình thật lâu, mà là chuẩn bị cho ngày con có thể mỉm cười bước đi mà không còn cần nắm tay mình nữa. Và đến một lúc nào đó, điều cha mẹ phải học không còn là dạy con trưởng thành, mà là học cách chấp nhận rằng con đã trưởng thành. Và có lẽ, đó cũng là một sự tu tập.

Đó không phải là xa cách, mà đó là tình yêu đã trưởng thành !

Con cái không phải tài sản của cha mẹ. Tuổi trẻ cũng chẳng thuộc về riêng ai. Ký ức lại càng không phải là nơi để ta ở mãi. Mỗi người chỉ đồng hành cùng nhau trên một đoạn đường, đủ dài để yêu thương, nhưng đôi khi cũng đủ ngắn để học cách chia tay. Hiểu được điều đó, ta vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn biết ơn tất cả những gì đã đi qua, nhưng không còn nhất thiết phải giữ chúng lại. Bởi có những điều, chính khi mở bàn tay ra, ta mới thật sự giữ được chúng mãi trong lòng.

Nhân đây, xin mở ngoặc một chút về hai chữ “buông bỏ". Thực ra, buông bỏ có lẽ cũng chẳng phải một triết lý gì quá cao siêu. Nói một cách giản dị, đó chỉ là trả mọi thứ về đúng với bản chất của nó.

Thế nhưng trong cuộc sống, không hiếm những ngộ nhận về hai chữ “buông bỏ”. Có người xem buông bỏ như một sự mất mát, một hy sinh, hay từ bỏ một điều gì đó vốn thuộc về mình. Người khác lại coi đó như một nấc thang dẫn đến những “cảnh giới” cao hơn của sự giác ngộ. Thậm chí, đôi khi người ta còn vô tình biến chính sự buông bỏ thành một thành tựu để tự hào về công phu tu tập của mình. Nhưng nếu buông bỏ lại trở thành một điều để ta nắm giữ, hoặc một thành tích để xác nhận rằng "tôi đã buông được", thì có lẽ đó vẫn chưa phải là buông. Bởi đôi khi, cái khó buông nhất không phải là điều ta đang nắm giữ, mà chính là ý niệm rằng mình đã buông bỏ được nó :-) .

Nhớ có lần mình đọc được một câu hỏi rất hay - “Con người phải sống như thế nào để vừa yêu thương hết lòng, vừa không bị trói buộc bởi chính tình yêu ấy?”

Có lẽ câu hỏi ấy cũng gợi đến tinh thần Trung đạo trong Phật giáo. Không lạnh lùng để khỏi đau. Cũng không bám chấp để rồi khổ. Mà vẫn yêu thương bằng tất cả trái tim, nhưng cũng đồng thời hiểu rằng mọi cuộc gặp gỡ đều do nhân duyên và mọi cuộc chia tay đều nằm trong lẽ vô thường.

Tất nhiên, nói thì dễ, mà sống được như vậy thì phải tự trải nghiệm bản thân. Xụa nay ai nghe đến chữ " vô thường" thì cũng có thể hiểu ngay. Nhưng để thực sự chiêm nghiệm cuộc sống vô thường, có lẽ cần thời gian trải nghiệm và sống chung với nó. Còn nếu chỉ hiểu bằng lý thuyết suông, hoặc bằng tri kiến, thì đôi khi cũng giống như đi du lịch qua Youtube, hay ngồi bàn chuyện thế sự qua mấy cái video AI trên mạng vậy :-) .

Và cũng nhân câu chuyện nói về cách học yêu thương và buông bỏ trong đời sống thường ngày, mình lại lan man nghĩ đến cách con người học cách sống chung với nhau trong xã hội. 

Nhớ lại mấy chục năm về trước, thời mới qua Mỹ đi học, rồi nhìn lại xã hội hôm nay, quả nhiên có nhiều khác biệt. Đặc biệt, trong những năm gần đây, thế giới có quá nhiều biến động, nên ứng xử ngoại giao giữa các quốc gia cũng dần thay đổi. Riêng từng cá nhân cũng vậy, ít nhiều bị ảnh hưởng. Rất nhiều người, vốn từng chung sống thân thiện với nhau lâu nay, bỗng chốc thái độ và niềm tin trở nên khác lạ, phe nọ phe kia. Cho nên câu chuyện về sự bao dung và khả năng chung sống với những khác biệt lại càng đáng để chúng ta suy ngẫm !

Nhìn kỹ lại, thế giới quanh ta dường như đang ngày một trở nên ồn ào hơn bởi những xung đột, chia rẽ và tư tưởng cực đoan. Lòng tham, sự lạm dụng quyền lực, thái độ đối đầu và những lời lẽ đe dọa nhau dường như không còn là điều hiếm gặp. Những cách nói thiếu bao dung, những hành xử khiếm nhã mà trước đây người ta còn phần nào dè dặt, giờ đây lại xuất hiện ngày càng dễ dàng và đôi khi còn được xem như một điều bình thường. Từ một nguyên thủ quốc gia ở vị trí quyền lực cao nhất cho đến những con người dân dã bình thường trong đời sống hằng ngày, dường như chẳng ai hoàn toàn đứng ngoài bầu không khí ấy. Ta bắt gặp nó trong những cuộc trò chuyện thường nhật, trên mạng xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, và đôi khi ngay cả trên những diễn đàn ngoại giao, nơi lẽ ra sự thận trọng trong lời nói, sự tôn trọng lẫn nhau và tinh thần đối thoại cần được gìn giữ hơn bất cứ nơi nào khác.

Điều đáng suy ngẫm hơn là, thay vì nuôi dưỡng một thái độ sống hướng đến lợi ích chung và một nền văn hóa biết tôn trọng sự khác biệt - vốn dĩ là điều rất tự nhiên và cần thiết trong bất kỳ xã hội đa dạng nào, thì đôi khi chính những khác biệt ấy lại bị khai thác để khơi dậy sự sợ hãi, định kiến và hận thù. Khi đó, sự khác biệt không còn là cơ hội để con người hiểu nhau hơn, mà có thể bị biến thành công cụ cho những toan tính chính trị và quyền lực, bất chấp liêm sĩ, trách nhiệm và những hệ quả lâu dài mà xã hội phải gánh chịu.

Nhưng có lẽ điều đáng lo ngại nhất không phải chỉ là xã hội ngày càng có thêm những đường ranh phân biệt phe phái, mà là khi chúng ta dần quen với sự thù nghịch ấy và xem nó như một điều bình thường của cuộc sống. Là cha mẹ, ai cũng ít nhiều có lúc băn khoăn tự hỏi thế giới mà thế hệ con cháu chúng ta sẽ bước vào mai sau sẽ là một thế giới như thế nào? Và quan trọng hơn, một câu hỏi được đặt ra là hôm nay chúng ta đang để lại cho thế hệ tương lai một di sản của sự chia rẽ, hận thù, hay đang cùng nhau xây dựng một nền văn hóa của lòng bao dung, tử tế và khả năng sống cùng những khác biệt?

Thực tế nhiều người dường như không còn dành đủ thời gian để chiêm nghiệm, phân tích hay tự mình đánh giá tính trung thực và hợp lý của một vấn đề. Thay vì tự hỏi "Điều này có đúng không?", người ta lại dễ dàng đặt câu hỏi "Ai đang nói điều này, và họ thuộc phe nào?". Từ đó, sự thật đôi khi không còn được nhìn nhận dựa trên chính giá trị và căn cứ của vấn đề, mà qua lăng kính của sự phân chia và định kiến. Đáng suy ngẫm hơn, con người không chỉ "nghe" mà còn có khuynh hướng "bám giữ" những điều mình chưa từng trực tiếp trải nghiệm, chưa thật sự tìm hiểu hay kiểm chứng, bởi đơn giản là chúng được lặp đi lặp lại bởi những người cùng quan điểm, bạn bè quen biết, hoặc được củng cố bởi hiệu ứng đám đông.

Bởi vậy, cái "bám" và "buông" không phải chỉ là câu chuyện của một đứa bé mới trưởng thành bắt đầu rời xa gia đình, mà còn là một thách thức lớn hơn, vô cùng quan trọng cho mỗi con người trong sự chọn lựa giữa cái bám trụ cực đoan, và sự thức tỉnh giải thoát cho cuộc sống của riêng họ.

Tất nhiên, thời gian rồi sẽ trả lời điều gì là đúng, điều gì là sai. Nhưng đằng sau tất cả những thắng thua đó, mình vẫn thường tự hỏi: 

Liệu một chiến thắng có thật sự đem lại tự do và bình yên nếu nó không đi cùng lòng nhân ái? Và liệu một xã hội có thể bền vững nếu con người chỉ biết dùng bạo lực để dọa dẫm, thắng thua, cưỡng chiếm, mà quên học cách thấu hiểu nhau? 

Có lẽ đây cũng là điều mà các vị lãnh đạo thế giới đang suy ngẫm chăng ?

Thôi, lâu rồi không viết nên lại lan man hơi nhiều. Xin dừng nơi đây. Chúc tất cả bạn bè, thân hữu một cuối tuần thật bình an. 

PN


Thursday, March 19, 2026

Phiếm: Tri bỉ tri kỷ ....

 



Lâu nay người ta thường nói: "Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng". Trong những trận chiến ngày xưa, tranh giành đất đai, giữ gìn lãnh thổ, việc nắm bắt thông tin, rõ biết về đối phương là vô cùng quan trọng và khó khăn. Phải nghĩ đủ kế sách, rình mò, dò la, thăm hỏi. Ngày nay thì đã khác, ở cấp độ quốc gia, nước nào cũng có công nghệ tiên tiến, đội ngũ nhân viên hùng hậu, hàng ngày làm công việc đó. Còn chuyện lấy tin đúng hay tin bậy thì cũng chỉ họ biết, vì đó là chuyện "quốc gia đại sự". Tuy nhiên, thực tế xưa nay trong đời sống, thua vì "không biết người" thì hiếm, mà thua vì "không biết chính mình" thì lại nhiều :-).

Lịch sử thế giới xưa nay không thiếu những bậc anh hùng, từng đứng trên đỉnh cao quyền lực, từng khiến thiên hạ nghiêng mình. Nhưng cũng chính họ, trong một khoảnh khắc nào đó, lại trở thành nạn nhân của chính cái bóng mà mình tạo ra, cái bóng của chiến thắng, của danh vọng, của niềm tin rằng mình không thể sai. Có những vị tướng, từng thắng trăm trận, nhưng đến trận thứ một trăm lẻ một lại thua, không phải vì địch mạnh hơn, mà vì họ đã thôi không còn lắng nghe. Khi tiếng vỗ tay quen thuộc át đi tiếng cảnh báo, khi lời can gián trở thành "trái ý", thì thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian. 

Người đời thường sợ kẻ thù bên ngoài, nhưng kẻ thù đáng sợ nhất lại là sự hoang tưởng bên trong. Hoang tưởng không đến một cách ồn ào. Nó đến rất nhẹ, rất hợp lý. Nó thì thầm rằng: "Ngươi đã đúng quá nhiều lần, nên lần này cũng sẽ đúng". Nó khiến con người tin rằng kinh nghiệm của mình là chân lý, rằng quá khứ vinh quang có thể bảo chứng cho tương lai. Và từ đó, người ta không còn "tri bỉ tri kỷ" nữa, mà chỉ còn "tri kỷ" theo cách méo mó của cái "tôi" của mình. Trong sử sách, có những vị vua mất nước không phải vì thiếu binh lực, mà vì không chấp nhận thực tại. Có những tướng lĩnh thua trận không phải vì kém tài, mà vì quá tin vào tài của mình. Họ không sai ở tính quyết định; họ sai ở cách nhìn thế giới và quyết định dựa trên cái nhìn sai trái đó, nơi mà họ luôn tự cho mình là trung tâm. 

"Tri kỷ" là biết mình, không phải là biết điểm mạnh, mà là thấy được giới hạn bản thân. Là hiểu rằng mình có thể sai và sai rất sâu. Là dám đặt câu hỏi, biết lắng nghe, ngay cả khi mình đang thắng.

"Tri bỉ" là biết người, cũng không phải chỉ là đoán mưu tính kế của đối phương, mà là nhìn ra sự thay đổi. Thế giới không đứng yên để ta áp dụng những chiến thắng cũ. Kẻ địch hôm nay không giống kẻ địch hôm qua. Và chính ta hôm nay cũng không còn là ta của ngày trước. Nhiều ông chỉ huy thắng vài ba trận, là đã không một chút nghi ngờ chính mình, nghĩ rằng trận tiếp cũng sẽ thắng như chẻ tre. Mà không phải chỉ có đánh trận, mình có quen biết vài người đầu tư nhà đất, vàng vòng, hay chơi số đề cũng vậy. Thắng vài ba trận nhỏ, rồi lại thua một trận lớn tan tành :-)

Nhớ hồi nhỏ coi Tam quốc chí, thấy Khổng Minh thường có kế - lệnh cho tướng đem quân ra trận rồi để thua, bỏ chạy, mà không được thắng. Lúc đó cứ thắc mắc sao ông ta có một chiêu quèn đó mà áp dụng hoài vẫn thành công. Sau này lớn lên mới hiểu là trong cuộc sống, nhu cầu cần được "bơm bong bóng" lúc nào cũng có. Ngay cả những nhân vật tên tuổi, tầm vóc như vua chúa, nguyên thủ quốc gia… đôi khi vẫn có những người thích ăn kẹo, hám danh, hoang tưởng và ái kỷ :-) .

Nhìn lại, quả nhiên giữa thắng và bại, đôi khi chỉ cách nhau một điều rất nhỏ, như nhìn lại chính mình. Có lẽ vì vậy mà những người thật sự vĩ đại trong lịch sử thường không phải là những người không bao giờ thua, mà là những người luôn giữ được một khoảng lặng trong tâm trí. Một khoảng lặng, đủ để nghe được điều mình không muốn nghe, đủ để thấy mình chưa hoàn hảo, đủ để không biến chiến thắng và sự ca tụng trở thành xiềng xích. Bởi đơn giản là khi con người ngừng "tri kỷ", thì "tri bỉ" cũng trở nên vô nghĩa. Và thất bại, khi đó, không còn đến từ bên ngoài nữa, nó bắt đầu từ bên trong. Và họ thua chính bản thân họ !


Lịch sử, Đông hay Tây, đều có những con người từng đứng rất cao, và đã từng thất bại vì lỗi lầm này. Hạng Vũ từng oanh liệt đến mức khiến thiên hạ khiếp sợ. Nhưng đến cuối cùng, ông không thua đối thủ, mà thua cái ý niệm rằng mình không thể thua. Ông không phải là kẻ tầm thường. Trái lại, ông gần như là hiện thân của một "thiên tài quân sự", dũng mãnh, quyết đoán, đánh đâu thắng đó. Nhưng chính vì vậy, ông không bao giờ thực sự học được cách lùi lại. Khi con người đồng nhất mình với chiến thắng, thì thất bại trở thành điều không thể chấp nhận. Và khi không thể chấp nhận, họ cũng không thể học.

Ở phương Tây, Napoleon Bonaparte cũng từng bước qua gần như cả châu Âu với niềm tin gần như tuyệt đối vào chính mình. Nhưng rồi, trong mùa đông nước Nga, không chỉ quân đội ông kiệt quệ, mà chính cái nhìn về thế giới của ông cũng vỡ ra. Thiên tài không cứu được một cái tâm đã quá quen thuộc với việc "mình luôn đúng". 

Adolf Hitler cũng là một ví dụ cực đoan của một cái "ta" không còn giới hạn. Khi thế giới chỉ còn là nơi để xác nhận niềm tin của mình, thì mọi thực tại khác đều bị loại bỏ. Và khi thực tại bị loại bỏ, thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian, dù trước đó có bao nhiêu chiến thắng đi nữa.

Trong lịch sử VN, câu chuyện của Hồ Quý Ly cũng mang một sắc thái rất đặc biệt. Ông không thiếu trí tuệ, cũng không thiếu tầm nhìn. Nhưng ông lại quá tin rằng mình đã thấy đúng bản chất của thời cuộc. Sự tự tin ấy dần trở thành một dạng "chấp kiến", chấp vào cái thấy của mình như chân lý duy nhất.

Trong Phật học, chấp kiến còn nguy hiểm hơn cả vô minh. Vì vô minh thì còn có thể học. Nhưng khi đã tin rằng mình biết hết, mình luôn đúng, thì không còn chỗ cho việc nhìn lại, thấy lại. Và khi một người không còn thấy lại chính mình, thì dù cải cách có đúng đến đâu, cũng sẽ trở thành sự áp đặt.

Đạo học thì nói nhẹ nhàng hơn. Lão Tử nói là "Tri nhân giả trí, tự tri giả minh". (tạm dịch: biết người là trí, biết mình mới là sáng). Nhưng "biết mình" ở đây không phải là biết mình giỏi đến đâu, mà là biết mình không phải là trung tâm của vạn vật. Xưa nay thế giới không hiếm những quốc gia đắm chìm trong bi kịch, nơi mà người dân đã phải khốn khổ, gánh chịu mệt mỏi, thậm chí mất mát, chết chóc tang thương vì những hoang tưởng của các bạo chúa hoặc những nhà lãnh đạo độc tài độc đoán .


Mình cũng nhớ là có đọc ở đâu một câu nói "Nước chảy xuống chỗ thấp, nên mới nuôi được muôn loài. Người biết hạ mình, nên mới thấy được toàn cục". Bởi vậy, dù là tướng tá chỉ huy, hay nguyên thủ quốc gia, vua chúa gì đó, mà kiêu căng tự phụ thì cũng giống như giòng nước chảy ngược, tưởng rằng mình cao hơn, nhưng thực ra chỉ đang tự tách mình khỏi dòng chảy. Chỉ cốt làm khổ mình, khổ người. Trong Thiền học, có một khái niệm rất hay, đó là "tâm ban đầu", tức là cái tâm của người mới bắt đầu. Cái tâm của người mới học, chưa biết, nên còn mở. Khi còn mở, thì còn thấy; khi còn thấy, thì còn học. Và khi còn học, thì chưa rơi vào cái bẫy của chính mình. Nên trộm nghĩ rằng "tri bỉ tri kỷ" cuối cùng cũng không phải là tích lũy thêm hiểu biết, mà là giữ được cái tâm chưa từng biết đủ, còn nhiều thứ để lắng nghe. Bởi vì khi cái "tôi" trở nên quá chắc chắn, kiểu như "chắc như bắp" ở quê ta, thì mọi cánh cửa đều đóng lại :-) 

Nhớ hôm trước có người bạn nói với mình về vị trí số 1, số 2 của các quốc gia trong tương lai. Mình xưa nay vốn không quan tâm nhiều đến thứ hạng hơn thua trong đời sống. Bởi đó chẳng qua chỉ là những con số người ta đặt ra, gắn mác lên nhau. Thực ra mọi thứ xảy ra, cho dù đặt để ở vị trí nào, cũng chỉ là kết quả của những nhân duyên mà con người và đất nước họ đã gieo trồng trước đây, cũng như trong hiện tại. Và sự vận hành theo nguyên lý duyên sinh duyên khởi đó vẫn đang tiếp diễn hàng ngày hàng giờ. Tất nhiên, thứ hạng nào rồi cũng sẽ phải thay đổi theo quy luật vô thường. Không quốc gia nào đứng đầu mãi, mà cũng không quốc gia nào mãi ở phía sau.

Trong PG không nói nhiều đến thắng bại, mà nói đến "chấp". Chấp vào cái thấy, cái biết, cái công lao, lời khen chê, hay hình ảnh “ta là ai” trong mắt người khác. Khi đã chấp, thì không còn "tri kỷ, tri bỉ" nữa, mà chỉ còn bảo vệ một cái "ta" tưởng tượng. Và khi cái "ta" quá lớn, thế giới xung quanh trở thành một tấm gương méo mó, ai cũng có thể là kẻ thù, mọi lời nói đều có thể bị hiểu là mưu hại. Cái đáng sợ không phải là nghi ngờ người khác, mà là không còn khả năng tin vào điều gì ngoài chính mình. Và khi đó, "tri bỉ" cũng không còn, vì người khác không còn được nhìn như họ đang là, mà chỉ như cái bóng phản chiếu của nỗi sợ bên trong. 

Thực ra, những câu chuyện "tri bỉ tri kỷ" ấy không phải là xa xưa lắm, hoặc chỉ nằm trong sử sách, mà chúng vẫn đang lặp lại mỗi ngày trong một không gian khác. Ngày xưa, chiến trường là nơi va chạm của binh lực. Ngày nay, chiến trường là nơi va chạm của quan điểm.

Ví dụ như mạng xã hội, thoạt nhìn thì thấy như là nơi để "tri bỉ", để hiểu người khác. Nhưng càng ở đó lâu, người ta lại càng ít hiểu nhau hơn. Không phải vì thiếu thông tin. Mà vì cái "ta" đang đứng giữa. Một cái "ta" đang ngụp lặn giữa mớ thông tin hổn độn từng ngày, đúng sai thật giả, xen kẻ lẫn nhau. Nhiều người không phải đọc để hiểu, mà đọc để phản bác. Không lắng nghe để thấy, mà lắng nghe để chuẩn bị nói. Và từ đó, "tri bỉ" dần biến mất, chỉ còn lại những phiên bản của người khác được tạo ra trong chính mình. Trong Phật học, cái đó là tưởng tri, "biết" qua tưởng tượng, "biết" qua cái bóng của tâm. Ta không đối thoại với người thật, mà với hình ảnh của họ trong suy nghĩ của mình.

Cái "ta" trong thời đại ngày nay không còn đứng một mình. Trên mạng, nó được nuôi lớn bởi sự đồng thuận, bởi những lượt thích (like), lượt đọc, bởi cảm giác luôn có người cùng phía. Ngoài đời thật, nó được mã hóa bằng những thành công, được vỗ về bằng những lời xưng tụng. Trong chính trường, nó được số hóa bằng những lá phiếu, được phóng đại bởi những đồng minh phe phái, được tô điểm bằng những chiến thắng tức thời…Từ đó, cái "ta" không chỉ tin mình đúng, mà còn tin rằng mình đã được chứng minh là đúng. Nghe thì sướng, nhưng cái "ta" ấy lại rất mong manh, vì nó không được xây dựng trên một nền tảng sự thật bền vững, mà trên sự lặp lại và những giả định.

Điều đáng lo hơn nữa là, đôi khi những người có quyền lực, điều hành một tập đoàn hay cả một đất nước, cũng có thể dễ dàng bị cái "ta" ảo tưởng chi phối, khiến sự sáng suốt bị lệch đi, từ đó kéo theo nhiều hệ lụy trong xã hội. Friedrich Nietzsche có nói “Convictions are more dangerous enemies of truth than lies". (Tạm dịch: Những niềm tin chắc chắn còn nguy hiểm hơn cả dối trá.)

Bởi vậy, mình nghĩ "tri bỉ tri kỷ" ngày nay không còn là một chiến lược, mà là một sự tu tập. Là khả năng có thể dừng lại trước khi phản ứng. Là bản lãnh dám nghi ngờ chính điều mình tin. Là thái độ dám nghe nhìn một ý kiến khác mà không vội gọi nó là sai....  

Và có lẽ vì vậy mà hôm nay mình lại lan man nghĩ đến đề tài này. Thực ra mấy tuần qua, đọc tin tức, rồi nhận được những trao đổi của bạn bè về chuyện chiến tranh căng thẳng giữa Mỹ và Iran, mình vừa thấy quen vừa thấy lạ. Quen, vì lịch sử đã từng lặp lại những vòng xoáy như thế. Lạ, vì mỗi lần lặp lại, con người dường như vẫn mang theo những niềm tin rất chắc chắn rằng là lần này khác, và "ta" đã hiểu rõ nội dung kết cục :-).

Mình xưa nay vốn không hứng thú với việc chọn bên, hoặc cuồng tín theo cánh này, cánh kia, đảng này, phái nọ. Vì công việc đó luôn có thiên hạ làm giùm rồi. Giỡn chút thôi, chứ thực tế trong đời sống, đôi khi chỉ cần ta không đồng tình một điều gì đó với bên A, nhiều người đã tự động đặt ta vào bên B rồi :-). Tư duy nhị nguyên của con người vốn vận hành rất nhanh, gần như không cần suy nghĩ. Và rất nhiều người kể cả các vị tu sĩ chức cao trọng vọng cũng khó vượt qua được cái rào chắn này. Mọi thứ trở thành hai phía tưởng chừng như rõ ràng, đúng và sai, ta và họ (địch), trong khi thực tại thì hiếm khi đơn giản như vậy !

Mình cũng không viết để kết luận ai đúng, ai sai. Vì có lẽ, điều đó không thuộc về một cá nhân nào cả. Chỉ là tản mạn đôi chút về những gì đang diễn ra hiện nay, những câu chuyện trước mắt, và những câu chuyện từng xảy ra trong lịch sử mà bất cứ ai cũng có thể nhìn lại hoặc kiểm chứng được. Chỉ mong, giữa những ồn ào của thông tin nhiễu loạn và những diễn biến đang thay đổi hàng ngày, mỗi người vẫn giữ được cho mình một khoảng lặng, đủ để không đánh mất mình giữa những điều tưởng chừng như rất "chắc chắn". Từ đó, mỗi người có thể tự nhìn, tự nhận xét, tự hiểu, theo cách của riêng mình. Còn kết quả ra sao thì cứ để thời gian trả lời vậy :-).

Thôi mình tạm dừng, thân chúc tất cả một cuối tuần bình an hạnh phúc.

PN

Saturday, February 21, 2026

Tản mạn đầu Xuân ....


Rồi mấy ngày Tết cũng sớm qua đi. Hôm nay không biết đã đến mùng mấy rồi ? Bên VN thì hết mùng còn mền, chứ bên Tây, bên Mỹ, thì nhiều người mùng mền gì vẫn cứ đi làm như thường lệ. Mỗi người tuỳ vào hoàn cảnh mà gìn giữ cái văn hoá ngày Tết của quê mình. Sáng nay, cuối tuần đầu tiên của năm Bính Ngọ, ngoài trời ấm lên nhiều, trong nhà hoa lá vẫn còn rực rỡ. Pha ly cafe VN, nghe bài nhạc Xuân, mà cứ ngỡ như đang ngồi ở quê nhà :-).

Nói đến mùa Xuân và ngày Tết thì có biết bao điều để nói, đặc biệt là ở VN. Hôm chiều mùng một Tết, có vài người bạn Mỹ ghé "ăn Tết" với gia đình mình. Đại khái là ăn dùm mấy cái bánh tét, bánh chưng cúng Giao thừa. Nếu không, thì đến hết mùa xuân cũng chưa ăn hết, cứ để trong ngăn đá rồi quên mất. Ngồi nghe mình kể chuyện người Việt ăn Tết và chuẩn bị cho cái Tết, ai nghe cũng ngạc nhiên và kính nể :-). Tính ra, VN là một trong số ít quốc gia "ăn Tết" lâu nhất thế giới. Nên nói gì thì nói, chứ kêu người VN mà bỏ ăn Tết Nguyên đán hay giảm xuống còn một hai ngày, thì chắc là khó khăn vô cùng. Thà mất … tiền, chứ không mất Tết :-).

Nhưng cũng chính vì sự chú trọng đặc biệt ấy, với đủ loại nghi lễ, tập tục, tâm trạng, háo hức, lo toan, đợi chờ, mà mùa Xuân và ngày Tết lại trở thành cơ hội để các thiền sư ngày xưa nhìn sâu vào bản chất của đời sống. Trong thơ cổ Á Đông, Xuân và Thiền gần như là hai dòng chảy nhập làm một. Không phải xuân vui hay xuân buồn, mà là Xuân như nó đang là, đến thì đến, đi thì đi. Còn thơ Xuân thì xưa nay vốn nhiều vô số, thơ cũ, thơ mới, đủ loại. Trong số đó, có những bài thơ, năm nào cũng vậy, cứ đến Tết là từ trong nước cho đến hải ngoại, từ rừng cho đến biển, lại được các thi nhân và các nhà bình thơ đem ra bàn, ví dụ như bài kệ "Cáo tật thị chúng" của Thiền sư Mãn Giác :-): 

Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. 

(thiền sư Mãn Giác)

Dịch nghĩa:

Xuân đi, trăm hoa rụng,
Xuân đến, trăm hoa nở.
Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,
Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.
Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,
Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.


Dĩ nhiên thơ ca thì hay dở tuỳ người cảm nhận, hay với người này chưa chắc đã hợp ý với người kia. Thậm chí có nhiều người chỉ gật gù cho vui chứ bài thơ nào nghe cũng như nhau. Nhớ hồi còn học trung học, mình cũng thường xuyên bị điểm xấu vì phân tích thơ văn không giống ý của thầy cô giáo :-). Mà nhắc đến thơ Xuân nhạc Xuân thì nói hoài không hết. Có một bài thơ cổ khác mình cũng rất thích, đó là "Điểu minh giản" của Vương Duy thời Đường. Ông vốn là một đại thi hào của TQ. Ngày xưa khi nói đến thơ cổ, người ta thường nhắc đến các nhân vật lẫy lừng như Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ, Thi Phật Vương Duy, và Thi Quỷ Lý Hạ... Còn bây giờ ở quê ta chuyện đó không còn đặc biệt nữa, vì VN đã trở thành một "cường quốc" thơ. Cứ ra ngõ là gặp nhà thơ, nên thơ phú ngày nay cũng đa dạng hơn nhiều :-).

Điểu minh giản
Nhân nhàn quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không.
Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
Thời minh xuân giản trung. 
(Vương Duy)

Và cũng như các bài thơ Đường nổi tiếng khác, VN ta luôn có nhiều bản dịch khác nhau. Dưới đây là bản dịch của cụ Ngô Tất Tố

Chim hót trong khe
Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,
Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.
Trăng lên, chim núi giật mình,
Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi
(Ngô Tất Tố)

Mình thì thích cái ý nghĩa "xuân vô tích sự" trong bài thơ này :-). "Nhân nhàn quế hoa lạc", người nhàn, hoa tự rơi, không vì ai cả. Xuân không phục vụ cảm xúc con người, hoa rơi không phải vì buồn, mà chim hót không phải vì vui. Xuân vô tâm vậy, nên mới tự nhiên. Đêm tĩnh, xuân rỗng lặng. Trăng lên, chim giật mình, hót lên trong khe núi. Mọi thứ xảy ra theo tự nhiên. Chỉ đơn giản là vậy. Mùa xuân không có ý định đến. Cũng như năm cũ, không có chủ ý rời đi. Chỉ là khi có điều kiện đầy đủ, nắng ấm, hoa nở. Khi duyên tan, lá rụng, hoa tàn. Con người gọi đó là năm mới. Còn xuân thì chỉ… đang là xuân. Hết Xuân, thì tới Hạ, hết Bính Ngọ thì tới Đinh Mùi… :-). 


Đầu năm lan man chút cho vui. Cách đây hai tuần mình về VN thăm nhà, về đúng một tuần, về thứ Bảy mà đi cũng thứ Bảy. Qua lại Mỹ, kịp đón giao thừa cùng gia đình và bạn bè. Tới hôm nay vẫn còn bị jet lag (lệch múi giờ) nên ngủ chưa quen. Ngày đi, sân bay Chicago phủ đầy tuyết, lạnh lẽo. Ngày trở lại, sân bay New York cũng giá băng, người xếp hàng dài chờ qua cửa an ninh. Mệt mỏi đợi chờ, giữa lúc cơ quan TSA hoạt động cầm chừng vì Quốc hội Mỹ còn mãi loay hoay chém gió với những cuộc mặc cả ngân sách :-).

Ngày về, sáng đến Sài Gòn, chiều bay ra Trung, tối xuôi ghe trên dòng sông quê, ngắm trăng muộn. Chuyến đi do ông anh tổ chức. Trên ghe, vài anh chị em cùng những cô ca sĩ “cây nhà lá vườn” cất lên những khúc nhạc cũ, mộc mạc như chính giọng nói của quê hương. Ghe neo gần Cửa Đại, nhìn về phía Cổ Lũy xa xa, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi lâng lâng khó tả. Gió biển mang theo vị mặn, thổi nhẹ trên những gương mặt đã in dấu thời gian của những phận người tha phương, những đứa con xa nhà.

Ngôi chùa rực rỡ trên đỉnh núi, cùng bức tượng Phật Quan Âm cao nhất Đông Nam Á soi mình dưới dòng sông lờ lững sương đêm, khiến mình chợt nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế ngày xưa.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
(Trương Kế)

Bài thơ này vốn thuộc hàng tuyệt tác, nên có rất nhiều bản dịch tiếng Việt, ai muốn tìm hiểu thêm thì Google nghen. Ở đây mình có 2 bản dịch của Tản Đà và Trần Trọng Kim, cũng khá xưa rồi…

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều 

Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bãi, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Tản Đà dịch )

Hoặc là:

Đêm khuya thuyền đậu ở bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.
Con thuyền đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Trần Trọng Kim dịch)


Lúc đó, nhìn ngôi chùa mới to đùng và tượng Phật Quan Âm soi hình trên giòng sông cũ, một tâm trạng rất khó diễn tả, nên mình cũng cảm tác được vài câu chữ, còn chưa biết đặt tên là gì :-) 

Vô đề,

Trăng tàn
neo bến cố hương
nhạt nhoà Cổ Luỹ mờ sương lối về
Ngón tay Phật chỉ
tỉnh mê 
dầm khua nước lợ ai về ai đi ...?

PN (2026)

Thực ra, đứa con nào trở về quê chắc cũng mang trong lòng những cảm giác lâng lâng như vậy. Cửa Đại ngày xưa, nơi sông gặp biển, những mùa biển động, những cơn gió nồm, những mùa nước lũ, những con nước ròng… Rồi những con cá bống, cá thài bai mỗi độ xuân về; những mùa hoa cúc, hoa cải ở Hổ Tiếu, Hàm Long, mướt mắt; những bước chân vụng dại lang thang Chùa Hang, Bàn Cờ, đồn Hải Thuyền… Tất cả vừa xa vời, vừa dính mắc trong ký ức. Vừa muốn quên, lại vừa muốn nhớ, một mâu thuẫn rất tự nhiên của những đứa trẻ xa quê.

Nhưng thú thật, nhắc đến "Phong Kiều dạ bạc" thì khó lòng không nghĩ đến "Bạc Tần Hoài" của Đỗ Mục. Ngồi nghe các anh, các cô ca sĩ cất giọng, lòng mình lại lang thang theo một bài thơ thuở nào xa xưa. Trước biển đêm mênh mông, cảm giác hiện lên không chỉ là rộng lớn, mà còn là một nỗi xa xăm, man mác, như một nỗi buồn sâu lắng. Quả nhiên, mọi sự dính mắc, dù tinh tế đến đâu, cũng đều là mầm mống của khổ.

Lan man theo dòng sông quê đầy ắp kỷ niệm, hôm sau lại được thưởng thức những món ăn quê nhà, rồi hát hò với các ông anh, bạn bè. Cảm ơn những người bạn luôn tận tình, chu đáo đón tiếp. Những ngày cuối năm ở quê nhà, thật sự tuyệt vời !

Hôm sau, bay trở lại Sài Gòn, chuyến bay vắng khách hơn nhiều so với lúc đi. Về nhà ở với Má, dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị Tết vài ngày. Chợ hoa năm nay có vẻ kém sôi động hơn, nhưng không khí xuân trên cao nguyên thì lúc nào cũng nhẹ nhàng, lãng đãng. Thích nhất vẫn là những tà áo dài thướt tha trong gió. Nhận thấy dạo này ở Việt Nam, nam giới mặc áo dài nhiều hơn, lịch lãm hơn. Màu sắc, kiểu dáng phong phú, không còn giống hình ảnh của các cụ lý, cụ tổng ngày xưa :-).

Đi mua hoa rồi la cà quên cả lối về. Ghé quán cà phê, không làm gì cả, chỉ ngồi và ngắm, thấy lòng lắng xuống. Hình như mùa xuân nơi miền núi lúc nào cũng có một sức hút riêng đối với mình, từ thuở còn là SV cho đến bây giờ. Có lẽ, Tết không nằm ở mâm cỗ hay pháo hoa. Tết nằm ở khoảnh khắc mình cho phép bản thân dừng lại, nhìn sâu vào những gì đang có, và biết rằng còn có một nơi để quay về, thì lòng vẫn chưa … lạc :-).

Trở lại Mỹ, 28 Tết. Đêm hôm sau, giao thừa, đi chùa cùng gia đình. Trời lạnh, nhưng người đến ngày một đông, mỗi năm mỗi nhiều. Dập dìu tài tử giai nhân, nghi lễ hương khói cũng chẳng khác mấy ở quê nhà. Nghĩ lại, mùa xuân và cái Tết của người Việt giờ đã có mặt khắp nơi trên thế giới. Dù là người tị nạn, kẻ di trú, người đi học, hay kẻ làm thuê, thân phận trôi dạt khắp nơi, tha phương cầu thực, nhưng vẫn cùng nhau chia sẻ một mùa Xuân dân tộc. Âu đó cũng là duyên !

Năm mới xin kính chúc tất cả một năm an khang thịnh vượng, vạn sự an lành !

PN
Xuân Bính Ngọ 2026






Thursday, January 29, 2026

Lại chuyện chữ nghĩa ...



Thế là cơn bão lịch sử đã đi qua. Nắng lên, nhưng ngoài trời vẫn còn lạnh. Nhìn qua khung cửa, thấy mấy cây camellia (hoa trà, trà hoa nữ, trà mi...) mới bị phủ đầy băng tuyết vài hôm trước, nay đã tươi tỉnh trở lại. Tự nhiên thoáng chút lo lắng không biết có kịp nở hoa vào dịp Tết không ? Rồi phì cười khi nhận ra mình thường hay lo những chuyện chưa tới, nuối tiếc những chuyện đã qua. Mà con người vốn vậy, chứ thật ra chuyện đã qua thì không thay đổi được, còn chuyện sắp tới thì cứ đến lúc đủ điều kiện, đủ nắng, đủ ấm, hoa nở thôi. Tự nhiên là thế !

Ngồi đọc email của một ông anh chuyển cho mình, bài có tựa đề "Hiểu đúng về Đạo Phật", liền nghĩ ngay vậy là còn có những cái "Hiểu sai" tồn tại đâu đó ngoài kia. Lướt qua vài bài viết trên mạng, theo dõi hành trình các nhà sư đi bộ đến Virginia, nghe có người nhắc đến quý sư thuộc về PG Nguyên thuỷ (Nam Tông), liền nghĩ ngay đến chuyện thiên hạ còn phân biệt tông phái Nam Tông, Bắc Tông, Thiền tông, Tịnh độ Tông .... Tự nghĩ, rồi tự cười với cái tư duy "nhị nguyên" của mình, nó vốn vận hành như vậy, dù đã "cảnh giác" lắm rồi. Kiểu này mà mong được nhìn thấy sự vật như nó "đang là" (như thị) thì chắc là còn lâu lắm đây.. :-) !

Cuối tuần qua, lúc cơn bão đang kéo đến, rảnh rỗi ngồi tản mạn chút, có nhắc đến chuyện "giáo dục". Qua giờ, nhận được vài email phản hồi rất thú vị. Hôm nay, mình cũng muốn chia sẻ thêm chút nữa về một vài "chữ nghĩa" có phần “gai góc” hơn. Chắc chắn là không phải ai cũng quan tâm và đồng ý với những quan điểm của mình. Tuy nhiên, mình cũng muốn nhắc lại như đã từng nói trước đây, mình không phải là tu sĩ, càng không phải là người thuộc lòng kinh điển, rành rẽ giáo lý, của bất kỳ một tôn giáo hoặc tông phái nào. Chỉ là may mắn đọc được một số sách báo, tài liệu, có duyên gặp gỡ được sự chỉ dạy từ một số người. Trong đó, có một số vấn đề làm mình suy nghĩ, quan tâm đến, và muốn chia sẻ cùng anh chị em bạn bè thôi. Không hề có ý muốn giảng thuyết hoặc tranh chấp đúng sai. Nên chủ yếu là đọc cho vui thôi :-) .

Sỡ dĩ dông dài như vậy là vì trong đời sống xã hội nói chung, con người thường có xu hướng nhìn mọi việc qua lăng kính thiên kiến. Thấy một phần thì tưởng là toàn thể, nắm được một góc thì vội kết luận cả bức tranh. Từ đó, việc phê phán lẫn nhau dường như trở thành thói quen, đôi khi rất vô thức. Mình cũng vậy. Thực tế, lôi cuốn vào những tranh chấp đó, đa phần là tốn thời gian mà lại chẳng giúp ích được gì, cũng không đem lại sự an lạc cho bản thân và cho người khác. Giống như có nhiều tấm bản đồ chỉ cùng một đích đến. Bản đồ 2D, 3D, màu xanh màu đỏ, bút chì bút mực, google map, GPS ..., bản đồ của người này khác với của người kia. Cãi nhau vì cái bản đồ đẹp xấu hay màu sắc khác nhau, mà không thực sự đi, thì cũng chẳng bao giờ đến đích !

Mấy ngày qua, mưa bão, ở nhà đọc một số bài viết, nhận thấy có một vài khái niệm và từ ngữ trong PG rất dễ bị hiểu lầm, mình muốn chia sẻ dưới đây theo cái biết của mình. Hy vọng làm rõ thêm được chút đỉnh, còn nếu như lỡ làm cho quý bạn rối ren hơn thì thành thật xin lỗi vậy !

Trước hết là chữ "Pháp". Không hiểu bắt nguồn từ đâu, một số người khi nhắc đến chữ "pháp" là họ liên tưởng đến một cái gì mang tính pháp thuật, huyền bí, quyền năng, thuộc quyền sỡ hữu của thần linh hay một tôn giáo nào đó. Thực ra, "pháp" chỉ là cách thế giới chung quanh vận hành, ví dụ đập đầu vô tường thì bị u, không làm bài thì bị điểm xấu, chửi người ta thì người ta chửi lại, trời lạnh không mặc áo ấm thì bị cảm lạnh .... Vậy thôi. "Thuận duyên tuỳ pháp" là hiểu được đạo lý duyên khởi, sống dựa theo những nguyên tắc vận hành của thế giới và vũ trụ, không cưỡng cầu nghịch lý như đang đi giữa mưa mà cứ mong được khô ráo. Đức Phật ngày xưa chưa bao giờ cho rằng Ngài là Đấng Toàn năng hay đấng Tạo Hoá, nên chắc chắn Ngài không "chế tạo" ra cái pháp nào. Và "Phật pháp" chỉ là những chân lý hoặc quy luật vận hành vốn tồn tại trong thế giới này xưa nay, mà Đức Phật đã nhận ra, "thấy" "biết" được (tức là giác ngộ), rồi chỉ dạy lại cho chúng sanh, để mỗi người tự thực hành thoát khỏi vô minh, đoạn diệt phiền não. Còn chuyện thiên hạ có thấy ra, có đi theo, có làm theo, hoặc đi tới đâu, là do duyên nghiệp của mỗi người. Không ai bắt buộc, không ai hứa hẹn, mà cũng không ai cưỡng cầu !

Kế đến là chữ "tông phái". Trong PG, sự phân biệt tông phái thể hiện khá rõ ràng qua cách một số người nhìn nhận vấn đề. Có người theo Nam Tông (Theravada) dựa vào Tam Tạng Kinh điển để phê phán Bắc Tông (Mahayana), cho rằng kinh điển Đại thừa là thêm thắt, không phải là lời Phật dạy nguyên thủy; kinh Nikayas khác với Agamas; Bồ tát là không có thực ..v.v. Ngược lại, cũng có những người theo Bắc Tông nhìn Nam Tông như con đường “hạn hẹp”, chỉ lo tự giải thoát mà thiếu tinh thần nhập thế, giúp đời... Những cách nhìn như vậy, nếu xét kỹ, đều phản ánh cùng một điều, đó là chúng ta đang chấp vào hình tướng và chữ nghĩa nhiều hơn tinh thần của Phật pháp.

Thật ra, nếu quay về cội nguồn, đạo Phật vốn không có nhiều tông phái. Phật chỉ có một tông, có thể gọi giản dị là Phật Tông. Những gì gọi là Nam Tông, Bắc Tông, Đại thừa, Nguyên thủy, Tịnh độ Tông, Mật tông Kim Cang thừa… đều xuất hiện sau này, tùy theo thời đại, căn cơ, văn hóa, và nhu cầu của con người. Chúng không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện. 

Trong đó có những giai đoạn lịch sử, nhu cầu luận giải để tồn tại và truyền thừa đạo pháp trở nên vô cùng quan trọng và bức thiết, nên không tránh khỏi những sự phân chia, bất đồng quan điểm. Tôn giáo và xã hội nào cũng có những giai đọan như vậy. PG biến động nhiều nhất là thời gian sau khi Đức Phật nhập diệt cho đến các thời kỳ sau vua A-dục, và hoàng tử Mahinda. Rồi đến thời kỳ của Ngài Long Thọ Bồ tát và sự phục hồi đạo pháp trước những sự tấn công của các tôn giáo thời bấy giờ. Hơn hai nghìn năm qua, PG được truyền thừa qua nhiều quốc gia, vùng miền, ảnh hưởng nhiều màu sắc văn hoá dân tộc, tư tưởng, phương pháp tu tập của các vị Tổ, và các nghi thức tục lệ đia phương. Nên việc PG ngày nay có những dị biệt và biến tướng sai lệch ở một mức độ nhất định nào đó so với nguồn gốc ban đầu, thậm chí mang sắc thái mê tín cực đoan, cũng không phải là điều khó hiểu lắm. Những câu chuyện lịch sử này thì ngày nay tài liệu có nhiều, ai muốn tìm hiểu thì đọc thêm vậy.

Đức Phật khi còn tại thế chưa từng lập ra một hệ thống giáo điều cố định để người đời sau tranh luận đúng sai. Ngài chỉ chỉ ra khổ, nguyên nhân của khổ, khả năng chấm dứt khổ, và con đường để đi tới đó. Tùy người nghe, tùy hoàn cảnh, Ngài nói khác nhau. Với người này, Ngài nói cách này; với người khác, Ngài nói cách khác. Nếu lời dạy ấy được ghi lại và đặt vào bối cảnh hôm nay, rất có thể cũng sẽ bị xếp vào những “tông phái” khác nhau ! 

Trong Phật học, có một hình ảnh rất đẹp, đó là chiếc bè qua sông. Pháp là chiếc bè dùng để qua sông. Khi đã qua sông rồi, không ai vác bè lên vai để khoe mình đã dùng chiếc bè nào, làm bằng tre hay bằng gỗ, hàng hiệu hay hàng chợ, hàng của miền này hay miền kia... Nếu nhìn theo tinh thần đó, thì Nam Tông hay Bắc Tông, đều là bè. Kinh Pali hay kinh Đại thừa đều là bè. Thiền, Tịnh, Mật… đều là bè. Vấn đề không nằm ở chiếc bè nào “đúng” hơn, mà là người có bè chịu xuống nước hay không, có thật sự chèo qua sông chưa, hay vẫn còn cột dây ngồi đó ngắm nghía cái bè nào sơn phết đẹp hơn ? Khi còn tranh cãi tông phái, đúng sai, cao thấp, có lẽ chúng ta vẫn đang đứng trên bờ, chỉ trỏ vào chiếc bè của nhau. Trong khi đó, tinh thần cốt lõi của Phật pháp là buông bớt phân biệt, buông bớt cái tôi, buông bớt nhu cầu cần phải thắng trong tranh luận. Nếu một người tụng kinh Pali mà lòng đầy kiêu mạn, thì vẫn còn xa Phật. Nếu một người tụng kinh Đại thừa mà sống thiếu từ bi, thì cũng vậy. Ngược lại, nếu một người sống tỉnh thức, biết bớt làm khổ mình và khổ người, thì dù không gọi tên tông phái nào, người ấy cũng đang đi trên con đường của Phật.

Tông phái chỉ là cách con người tạm phân loại để dễ hiểu, dễ đi. Phương tiện chỉ là những dấu mốc trên đường để khỏi lạc lối. Nhưng nếu biến những điều ấy thành bản sắc để bảo vệ, thành hàng rào để phân biệt, thì rất có thể ta đã quên mất lý do ban đầu vì sao mình bắt đầu.

Phật chỉ có một tông. Còn tông phái là do con người đặt tên. Hiểu được điều đó, có lẽ đã là một bước tu rồi !

Một khái niệm nữa được rất nhiều người thường xuyên nhắc đến như là mục đích tối hậu, đó là "Giác Ngộ". Trong các kinh điển hoặc các bài giảng, sự "giác ngộ" được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và trạng thái khác nhau tuỳ vào cách nhìn nào, ví dụ như là, trong sáng, rỗng rang, tịch tịnh tuyệt đối; thấy ra "Tánh Biết"; tri kiến giác ngộ; chấm dứt vô minh; đoạn diệt khổ đau (Khổ diệt), tuệ giác thấu suốt bản thể vạn vật; đại viên cảnh trí ...v.v.. Bởi vậy, một số người khi nghe đến chữ “giác ngộ” thường hình dung đó là một trạng thái nào đó rất siêu nhiên, xa đời sống, thoát tục, rời bỏ thế gian, rũ sạch bụi trần, không còn vướng bận buồn vui. Nhưng nếu nhìn kỹ lại tinh thần PG, giác ngộ không hề là một cuộc chia tay hay trốn chạy. Nó không đưa con người ra khỏi cuộc đời, mà đưa con người trở về với chính cuộc đời này, như nó đang là. 

Giác ngộ không phải là không còn đau, mà là thấy rõ nỗi đau khi nó đang có mặt. Không phải là không còn sợ, mà là nhận ra nỗi sợ khi nó nổi lên, không phủ nhận, cũng không chạy trốn. Khi thấy rõ được như vậy, nỗi đau và nỗi sợ không còn quyền lực tuyệt đối nữa. Chúng vẫn đến, rồi đi, nhưng không còn ai bị chúng cuốn theo !

Có một hiểu lầm khá phổ biến cho rằng người tu hành hay người tỉnh thức là người lúc nào cũng bất cần, không cảm xúc, thoát tục, như thể đã đứng ngoài mọi biến động. Thực ra, người thấy đời rõ hơn lại thường "cảm" đời sâu sắc hơn. Họ vui khi có niềm vui, buồn khi có nỗi buồn, thương khi có thương, mất mát khi có mất mát. Chỉ khác ở chỗ, họ không đồng hóa mình với những cảm xúc ấy, mà chỉ thấy nỗi buồn, niềm vui...đang có mặt. Nhận ra sự hiện diện của mọi cảm xúc, đến rồi đi, nên không bị dính mắc vào !

Giác ngộ, theo nghĩa này, không phải là đạt đến một cảnh giới siêu nhiên, cao vời, mà là không còn nhu cầu cần phải cao vời, khác thường. Không cần biến đời thành thiên đường, cũng không cần biến mình thành một ai khác. Chỉ cần thấy rõ những gì đang xảy ra, trong thân, trong tâm, và trong mối quan hệ với thế giới chung quanh. Đức Phật sau khi giác ngộ vẫn đi, vẫn nói, vẫn ăn, vẫn đau lưng, vẫn mệt. Các vị thiền sư giác ngộ vẫn cày ruộng, gánh nước, chăm sóc người khác, đối diện với những việc rất thường ngày. Cuộc đời không biến mất; chỉ có cách họ nhìn cuộc đời là đổi khác ! 

Giác ngộ không làm cho con người trở nên đặc biệt. Ngược lại, nó làm cho con người bớt đặc biệt hóa chính mình, vì thực chất là không có ai, không có "cái tôi" nào ở đó mà mong cầu đặc biệt. Khi không còn cố gắng đứng cao hơn người khác, họ tự nhiên đứng gần hơn với mọi người chung quanh. Nôm na, nói một cách đơn giản là giác ngộ không phải là thoát khỏi đời, mà là ở lại với đời, nhẹ hơn, rõ hơn, và chân thật hơn.


Kế đến là chữ "vô thường" (impermanence). Khái niệm này thì dễ hiểu, mà ai cũng thường nghe, đặc biệt là trong các bài giảng pháp thoại, hoặc là trong các câu chuyện xã giao hàng ngày. Đơn giản, nghĩa là vạn vật đều luôn thay đổi, không có gì thường hằng. (Mở ngoặc chút, có lẽ một số người từng nghe qua câu nói - sinh hữu tác thành, và cũng có thứ không sinh, không hữu, không tác, không thành - nhưng với phạm vi bài viết này, mình tạm bỏ qua ý này. Hẹn dip khác nói sau).  

Tuy nhiên có một số người hiểu lầm, cho rằng quy luật vô thường là của đạo Phật "sáng chế" ra. Thực ra đây là quy luật của vũ trụ, đã có hàng tỉ tỉ năm trước khi Đức Phật ra đời. Không ai sinh ra nó, mà cũng không bao giờ bị mất đi. Vô thường là cách "pháp" vận hành. Đức Phật chỉ chỉ ra quy luật hiển nhiên đó cho chúng sanh, vì đó cũng là một nguyên nhân của khổ đau nếu như con người cứ cưỡng cầu, bám víu vào những thứ luôn biến đổi mà mong mỏi sự thường hằng. Thế nhưng trong đời sống thỉnh thoảng cũng nghe đến những câu chuyện có người tin tưởng xây dựng được những thứ bền vững đời đời. Và cũng không hiếm nhũng người hiểu rõ đạo lý vô thường, nhưng tin thì vẫn tin, chờ thì vẫn chờ, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ thay đổi, bất di bất dịch. Một trong những câu nói cuối cùng của Đức Phật, cũng nhắc lại quy luật vô thường cho hàng đệ tử trước lúc ra đi.

Mới hôm rồi nói chuyện vui với một người bạn, mình cho rằng ngay cả giới hạnh cũng phải theo quy luật vô thường, cũng phải thay đổi cho phù hợp, thích nghi với hoàn cảnh tu tập. Giả dụ như các nhà sư "đi bộ vì hoà bình" mà khư khư giữ giới hạnh đầu đà (dhutaṅga) như các tu sĩ thời của Đức Phật, thì chắc chắn là đã không có sự kiện "Walk for Peace" hôm nay rồi. Vì không ai có thể đi chân trần giữa trời bão tuyết băng giá như thế, mà mặc ba y một bát, tối ngủ ngoài nghĩa địa hay bãi đất trống ở các nước Bắc Mỹ, Bắc Âu.

Một từ ngữ nữa trong PG, có hàm ý vô cùng sâu sắc, đó là "Vô Ngã". Tất nhiên, không thể nói hết ý nghĩa lý thuyết này trong vài cuốn sách chứ huống chi là vài dòng chữ. Nhưng đây là một lý thuyết vô cùng quan trọng cho những ai muốn đi sâu trên con đường thực hành PG. Lý thuyết này còn liên quan đến những khái niệm sâu sắc khác như "tánh Không" (emptiness), "linh hồn", tái sanh, đắc đạo ....v.v... và cũng là điểm khác biệt mấu chốt nhất giữa giáo lý PG và những tôn giáo khác. Dĩ nhiên, đây là một khái niệm tương đối khó diễn giải bằng ngôn ngữ, không khéo thì dễ dẫn đến những ngộ nhận hoặc suy diễn lệch lạc. Cho nên ở đây mình chỉ tóm lược vài ý gần gũi với đời sống hàng ngày thôi. 

Trong đạo Phật có một cách nhìn rất lạ, và cũng rất sâu sắc, đó là coi con người chưa bao giờ thật sự sinh ra, nên cũng chưa bao giờ thật sự chết đi. Nghe qua, điều đó có vẻ nghịch lý, thậm chí khó chấp nhận. Bởi ai cũng thấy rõ ràng trước mắt, có sinh có tử, có đến có đi. Tuy PG không phủ nhận những gì mắt thấy tai nghe, nhưng để hiểu cái nhìn "vô ngã" đó, con người cần phải nhìn sâu hơn vào cái mà ta luôn gọi là “ta” !

Nếu quan sát thật kỹ, thì cái gọi là “ta” chưa bao giờ đứng yên và tồn tại cố định. Thân thể này thay đổi từng ngày từng giờ. Ý nghĩ đến rồi đi, từng phút từng giây, không báo trước. Cảm xúc sinh ra, rồi tan biến. Ngay cả ký ức về chính mình cũng thay đổi theo thời gian. Theo PG, thứ tiếp diễn đó không phải là một cái "ta" cố định, mà là một dòng chảy của điều kiện. Có điều kiện thì hiện ra; điều kiện đổi thì hình tướng đổi. Giống như ngọn lửa được truyền từ cây đuốc này sang cây đuốc khác - có vẻ như cùng một ngọn lửa, nhưng thật ra chỉ là sự tiếp nối của nhiệt, của duyên, của gió và vật liệu. Nếu bạn nào biết qua vật lý lượng tử, có một khái niệm na ná như vậy nhưng tương đối dễ hiểu hơn, đó là "the observer effect in quantum mechanics", hành trình của các hạt lượng tử không cố định, luôn biến đổi theo cái nhìn và điều kiện tương tác.

Nói một cách khác, "vô ngã" trong PG không có nghĩa là “không có mình”, hay phải "xoá bỏ sự tồn tại của bản thân”. Vô ngã chỉ đơn giản là không có một cái tôi cố định, bất biến để bám vào. Cái “tôi” mà ta vẫn quen gọi tên, thực ra luôn thay đổi - hôm nay nghĩ khác hôm qua, vui buồn đổi liên tục, quan điểm sống cũng đổi theo hoàn cảnh. Thấy được vô ngã là thấy rằng những gì mình "đang là" chỉ là tạm thời, không cần phải bảo vệ hay đồng hoá quá mức. Khi không còn tin tuyệt đối vào cái tôi đang xuất hiện, con người tự nhiên bớt cố chấp, bớt khổ vì hơn thua, và dễ thở hơn khi cuộc sống đổi thay.

Thời nay, cái tôi có rất nhiều chỗ để phô bày và cũng rất dễ bị tổn thương. Trên mạng xã hội, một bài đăng, một bình luận, vài trăm lượt thích, hay vài lời chê bai cũng đủ làm tâm trạng lên xuống. Mạng xã hội khiến cái "ta" lúc nào cũng phải được nhìn thấy, được công nhận, được phản hồi. Trong khi đó, "vô ngã" lại đi ngược dòng. Nó nhắc nhở rằng mình không cần phải liên tục chứng minh mình là ai. Người ta thích hay không thích, nhớ hay quên, không nhất thiết phải trở thành thước đo giá trị của mình. Thực hành "vô ngã" giữa đời sống hiện đại không phải là rời bỏ mạng xã hội, mà là dùng nó nhưng không để nó điều khiển cảm xúc và lòng tự trọng của mình. Đăng thì đăng, nói thì nói, nhưng không để cái tôi phình to theo lời khen, hay co rút lại vì lời chê. Khi đó, mình vẫn sống giữa đời, nhưng không bị đời kéo đi quá xa :-) 

PG cho rằng cái tôi cố định vốn không có thực, mà nó chỉ là sản phẩm của ngũ uẩn (the five aggregates/ five skandhas) và các thức (consciousness) tạo tác. Tuy nhiên vì con người không thấy được điều đó, nên rơi vào "vô minh". "Vô minh" không phải là ngu dốt theo nghĩa nhiều người thường nghĩ, mà là ảo tưởng về một cái “tôi” riêng biệt, cố định, sinh ra rồi sẽ mất đi. Từ cái "tưởng" ấy, nảy sinh ra sợ hãi và khổ đau. Sợ mất. Sợ chết. Sợ thua. Sợ không còn là mình... Và từ sợ hãi ấy, con người bám víu, tranh giành, hám danh, cầu lợi, sĩ diện, bảo vệ tên tuổi, tạo tác không ngừng. Rồi đến khi không được thoả mãn hoặc như ý muốn, thì sinh ra khổ đau. Chỉ đơn giản là vậy. 

Cho nên, dù theo tông phái nào, thiền sư ở ẩn trên núi cao, hay cao tăng dấu mình trong chốn rừng sâu tu tập, cuối cùng rồi cũng phải trực diện "trận chiến sống còn" với cái "tự ngã" trước khi bước qua ngưỡng cửa khác. Thái tử Tất Đat Đa ngày xưa ngồi thiền dưới gốc bồ đề 49 ngày cũng phải trải qua những thử thách này trước khi giác ngộ thành Phật. Trong kinh điển PG có nhiều câu chuyện rất hay về đạo lý "cái tôi", "cái ngã". Duy Thức học của PG cũng nói rất rõ về cách vận hành của Mạt Na thức, bạn nào có điều kiện nên đọc. Trong Thiền tông, câu chuyện của ngài Thần tú và Huệ Năng ngày xưa cũng là một ví dụ rất hay :-).




Thôi, nhìn tới nhìn lui, nãy giờ viết một lèo, cũng chỉ mong mấy chữ “dao to, búa lớn” không bị hiểu lầm. Mà trớ trêu là rốt cuộc phải dùng ngôn từ để giải thích ngôn từ, càng giải thích thì càng dễ lệch lạc. Vì ngôn ngữ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện, mà đã là phương tiện, thì không phải là chân lý.

Nhưng con người lại rất dễ quên điều đó, quen dùng chữ nghĩa để diễn đạt, để giải thích, để phân tích, rồi dần dần tưởng rằng những gì có thể nói ra bằng lời chính là điều thật nhất. Trong khi đó, có rất nhiều điều trong đời sống, đặc biệt là những điều sâu sắc nhất, lại nằm ngoài khả năng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp ta tiếp cận, nhưng không thể thay thế cho sự "thấy, biết" trực tiếp. Ta có thể nói rất nhiều về vô thường, nhưng chỉ khi thật sự đối diện với mất mát, ta mới hiểu vô thường là gì. Ta có thể giảng giải rất hay về vô ngã, nhưng chỉ khi buông được một phần cái tôi trong đời sống hằng ngày, ta mới chạm được vào điều ấy.

Ngôn ngữ có giới hạn của nó. Nó luôn đi sau trải nghiệm. Nó mô tả, nhưng không phải là thực tại. Nó giống như bản đồ, rất cần thiết để định hướng, nhưng không phải là con đường. Nhìn bản đồ mãi mà không chịu bước đi, thì dù thuộc lòng từng ký hiệu, ta vẫn đứng yên tại chỗ. Ngôn ngữ sinh ra để phục vụ con người. Nhưng khi con người biến nó thành nơi bám víu, nó lại trói ngược con người. Chữ nghĩa lúc ấy không còn mở đường, mà chỉ làm dày thêm lớp sương mù giữa ta và thực tại.

Cũng vì vậy mà trong đạo Phật, người ta thường nhắc đừng lầm ngón tay chỉ trăng với mặt trăng. Ngón tay không sai. Nó rất cần. Nhưng nếu chỉ chăm chăm nhìn ngón tay, tranh luận xem ngón tay nào dài hơn, đúng hướng hơn, thì mặt trăng vẫn ở đó, còn ta thì chưa từng nhìn thấy.

Tóm lại, Phật pháp không nằm ở việc ta gọi tên con đường mình đi bằng danh xưng gì, cũng không nằm ở việc ta dùng chiếc bè nào để qua sông. Phương tiện phù hợp ở giai đoạn này chưa chắc còn phù hợp ở giai đoạn khác. Có những thứ từng giúp ta đứng vững, nhưng nếu ôm mãi, lại khiến ta không đi tiếp được. Nhận ra lúc nào nên nương vào phương tiện, và lúc nào nên buông phương tiện, cũng là một phần của trí tuệ.

Con đường của Phật pháp, suy cho cùng, không phải để phân chia, mà để hóa giải. Không phải để trở thành con người đặc biệt hơn, mà để làm con người bớt bị trói buộc hơn. Mình chia sẻ vài ý nghĩ trong bài này cũng chỉ là vậy. Không mong ai đồng ý hết, cũng không mong ai thay đổi gì ngay. Chỉ mong mỗi người, trong đời sống của mình, có thêm đôi chút lắng lại để nhìn cho rõ hơn. Đi được bao xa thì đi, mệt thì dừng. Thấy hợp thì giữ, không hợp thì buông. Nghĩ cho cùng, cũng giống như mấy cây Camellia ngoài kia. Không cần cố nở sớm hơn, cũng không cần lo lắng quá nhiều. Tới lúc đủ nắng đủ ấm, hoa sẽ nở. Không phải vì ai ban phát, mà vì nhân duyên đã chín.

Cảm ơn đã đọc. Chúc tất cả một cuối tuần an lành hạnh phúc !

PN


Sunday, January 25, 2026

Tản mạn ngày bão tuyết ...

 



Hôm qua, tăng đoàn "Walk for Peace" đã đến Toà Đô Chính của thành phố Raleigh, bang NC. Hàng ngàn người không quản ngại thời tiết lạnh lẽo, bão đá, đợi sẵn để chào đón tăng đoàn và chú chó Aloka tại đây. Thống đốc tiểu bang NC rất hoan nghênh, và đã chính thức ra văn bản tuyên bố công nhận ngày 24/1 là "Ngày đi bộ vì Hoà bình" của tiểu bang. 

Cuối tuần này, nước Mỹ cũng đang đối diện với một cơn bão mùa đông lịch sử, phủ dài suốt hàng chục tiểu bang từ đông sang tây, dự kiến hàng trăm triệu người bị ảnh hưởng. Hôm qua, hàng chục ngàn chuyến bay phải bị đình huỷ. Ở chỗ mình, mưa đá bắt đầu rơi từ đêm qua, nghỉ giải lao vài tiếng, giờ đang rơi tiếp. Làm một ly cafe nóng, tản mạn chút cho vui ....:-)





Ngày hôm qua, 24/1, cũng là ngày International Day of Education (tạm dịch là Ngày Quốc tế Giáo dục). Từ lâu, thế giới luôn dành một ngày trong năm để tôn vinh và nhắc nhở tầm quan trọng của lãnh vực giáo dục. Tuy nhiên đó cũng chỉ là hình thức, nghe cho trang trọng, chứ giáo dục vốn không phải là chuyện của một ngày, càng không phải là chuyện của những khẩu hiệu hay một bài diễn văn hoa mỹ, mà là một dòng chảy âm thầm, đi xuyên suốt đời sống con người, từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt rời đi. 

Thực ra, nếu nhìn giáo dục chỉ như việc học chữ, học nghề, học để có bằng cấp, kiếm cơm, thì đó mới chỉ là phần nổi rất nhỏ. Bởi có không ít người học rất nhiều, nhưng lại không hiểu chính mình; biết rất rộng, nhưng lại không biết sống sao cho nhẹ; thành công ngoài xã hội, nhưng trong lòng thì bất an, sợ hãi và cô độc.

Nhìn từ góc độ PG, giáo dục trước hết không phải để “trở thành” một ai đó, mà là để thấy ra mình đang là ai. Học không phải để chất thêm kiến thức lên cái đầu vốn đã nặng, mà để gỡ bớt những lớp vô minh, định kiến và ảo tưởng mà ta mang theo từ gia đình, xã hội, lịch sử, và cả từ chính nỗi sợ của mình.

Giáo dục đúng nghĩa không tạo ra những con người giống nhau, mà giúp mỗi người trở về với khả năng tự nhìn, tự nghĩ và tự chịu trách nhiệm cho đời sống của chính họ. Khi một con người biết quan sát chính mình, họ bớt đổ lỗi. Khi họ hiểu rằng mọi thứ đều đổi thay, họ bớt bám víu. Khi họ thấy rằng không có chân lý tuyệt đối nào nằm gọn trong một hệ thống, họ bớt cuồng tín.

Và từ đó, xã hội cũng đổi khác !

Một xã hội được giáo dục không phải là xã hội không có xung đột, mà là xã hội biết xử lý xung đột mà không rơi vào hủy diệt. Cũng không phải nơi ai cũng nói hay, mà là nơi người ta biết lắng nghe nhau. Càng không phải nơi ai cũng đúng, mà là nơi người ta chấp nhận mình có thể sai !



Hôm qua, mình có dịp chào đón đoàn tăng lữ “đi bộ vì hòa bình” (Walk for Peace). Trong lúc chờ đợi, được trò chuyện cùng vài người bạn mới quen. Cuộc trò chuyện rất ngắn, nhưng để lại nhiều suy nghĩ. Họ sinh ra và lớn lên trong những gia đình Ki-tô giáo, quen thuộc với những cách diễn giải rất riêng về con người, xã hội, đức tin và giá trị bản thân. Thế nhưng điều làm mình ấn tượng không phải là sự khác biệt ấy, mà là cách họ đi cùng sự khác biệt. Họ có đức tin, có nguyên tắc sống rõ ràng, nhận diện được những dị biệt giữa mình và người khác, nhưng không hề cực đoan, cũng không sùng bái cá nhân một cách mù quáng. Chính giáo dục, theo đúng nghĩa, đã giúp họ tìm được những tiếng nói chung trong một đời sống vốn đầy dị biệt.

Mình rất tôn trọng lối sống tỉnh thức (awareness) như vậy, mặc dù giữa họ và mình có không ít quan điểm khác nhau. Bỗng nhiên nghĩ đến đã bao lần mình từng được nghe thiên hạ gán ghép cho nhau những nhãn mác kiểu như “dân tộc này cực đoan hơn dân tộc kia”, “văn hóa này khoan dung hơn văn hóa kia”, "dân vùng miền này "sĩ diện" hơn vùng miền kia" ....v.v. Trong khi thực tế, ở đâu cũng có những con người biết lắng nghe, biết tự điều chỉnh, và biết sống chung với khác biệt.

Einstein từng nói: “The measure of intelligence is the ability to change.” (tạm dịch: Thước đo của trí tuệ là khả năng thay đổi). Vậy thì phải chăng, sự cực đoan luôn tỉ lệ nghịch với sự thông minh ? Hay đó chỉ là hệ quả của những hệ thống giáo dục và văn hóa lâu đời, nơi con người được dạy phải bảo vệ căn tính của mình bằng sự cố chấp, được nuôi dưỡng trong những vòng tròn khép kín của niềm tin, và vô thức khoác lên mình một lớp vỏ tự mãn ?

Nếu giáo dục chỉ dạy con người phải đúng, mà không dạy cách sửa sai; chỉ dạy bảo vệ bản sắc, mà không dạy đối thoại; chỉ dạy trung thành với một hệ giá trị, mà không dạy tự vấn chính hệ giá trị ấy, thì giáo dục đó, dù có nhiều bằng cấp, vẫn có thể trở thành mảnh đất nuôi dưỡng cực đoan. Thậm chí có nhiều nơi còn nhầm lẫn giữa giáo dục và tuyên truyền, trong khi hai lãnh vực này có mục đích hoàn toàn khác nhau. Một bên là khai phóng, rộng mở; một bên là thiên kiến, giới hạn! 

Trong PG, người tu học không được khuyến khích tin mù quáng, mà được khuyên bảo tự mình quan sát và trải nghiệm. Đức Phật không hứa hẹn cứu rỗi ai, cũng không trao cho con người một chân lý đóng gói sẵn. Ngài chỉ chỉ ra con đường, còn đi hay không, đi tới đâu, là việc của mỗi người. Tinh thần ấy, nếu được đem vào giáo dục hiện đại, sẽ giúp con người học cách sống tỉnh thức giữa một thế giới đầy nhiễu loạn.

Ngày nay, nhân loại có thể đi rất nhanh, biết rất nhiều, kết nối rất rộng, nhưng lại dễ mất phương hướng. Có lẽ vì ta đã học cách chinh phục thế giới bên ngoài, mà quên học cách an trú trong thế giới bên trong. Giáo dục nếu thiếu đi chiều sâu này, rất dễ trở thành công cụ tạo ra những con người giỏi giang nhưng rỗng lòng, năng động nhưng bất an.

Suy cho cùng, giáo dục không nhất thiết chỉ là để kiếm được nhiều tiền hơn, hay để "tự xem" mình mạnh hơn, giỏi hơn người khác, mà để bớt làm khổ mình và khổ người. Giáo dục cũng không chỉ là những tấm bằng giấy để thắng trong một cuộc đua ngắn hạn, mà là khả năng nhận ra khi nào nên đi chậm lại, khi nào nên dừng. Và giáo dục cũng không nhằm tích lũy cho thật nhiều, mà để dần hiểu ra được thế nào là đủ cho chính mình, biết cân bằng đời sống để không trở thành nô lệ của hoàn cảnh. Tất nhiên, đó cũng chỉ là cách nhìn cá nhân của mình, không nhất thiết phải đúng với tất cả mọi người. 

Trong bối cảnh chính trị và xã hội thế giới hiện nay, đặc biệt là ở Mỹ, không ít người âm thầm trăn trở về những điều đó. Thời đại ngày nay, nhiều gia đình có con nhỏ ngần ngại mở tivi xem tin tức trước mặt con cái. Những hình ảnh bạo lực, sự rối loạn giá trị, những khủng hoảng đạo đức và niềm tin xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đã trở thành nỗi lo thường trực của các bậc cha mẹ khi nghĩ đến sự hình thành nhân cách và hệ giá trị của con cái mình. Hình ảnh những nguyên thủ quốc gia hoặc người lãnh đạo chửi thề, đầy tâm lý hận thù, ứng xử nông nổi, thiếu sự trưởng thành ... dễ ảnh hưởng đến tư duy non nớt của thế hệ trẻ. Ngay cả việc phân biệt tin tức đâu là thật, đâu là giả, cũng không còn là thử thách riêng của trẻ nhỏ; mà ngay cả người lớn, đôi khi cũng không tránh khỏi bị cuốn hút theo.

Cho nên theo quan niệm của nhiều người, ý nghĩa đẹp nhất của Ngày Quốc tế Giáo dục không nằm ở các buổi lễ hay những khẩu hiệu được nhắc đi nhắc lại, mà nằm ở một câu hỏi rất giản dị từ mỗi người - Liệu ta đã học được những gì để sống tử tế hơn, cống hiến hơn, tỉnh táo hơn, và tự do hơn ?

Nếu giáo dục có thể giúp con người chạm tới câu hỏi ấy, dù chỉ một phần nhỏ, thì đó đã là một nền giáo dục đáng trân trọng. Và nếu mỗi người còn tiếp tục học suốt đời, học từ người khác, từ những vấp ngã, từ im lặng, và từ chính những nỗi khổ của mình, thì khi ấy, có lẽ giáo dục không cần một ngày để nhắc nhở hoặc tôn vinh, vì nó đã trở thành một cách sống !

Thôi tản mạn chút, xin tạm dừng ở đây. Chúc tất cả các bạn hữu và anh chị em một cuối tuần an vui.

PN